Giáo trình lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX

Phân tích diễn biến và kết quả cả ba lần xâm lược Đại Việt của đế quốc Nguyên – Mông có thể đưa ra một số kết luận về nguyên nhân thắng lợi của Đại Việt trong các cuộc chiến tranh này. Đại Việt ở nửa cuối thế kỷ XIII đã trở thành một quốc gia phong kiến thống nhât tập quyền. Trước khi cuộc chiến tranh lần thứ nhất nổ ra, nhà Trần đã có trên ba mươi năm nắm chính quyền, đã loại bỏ được các thế lực đối lập và củng cố vững chắc quyền lực của mình. Phần lớn các quan lại cao cấp là thành viên trong hoàng tộc, vì thế ở một mức độ đáng kể, nó cho phép tăng cường sự thống nhất trong việc lãnh đạo đất nước trên phương diện chính trị – quân sự. Đa số cư dân trong nước là những người nông dân tự do của các làng xã, họ nộp thuế cho Nhà nước, làm nghĩa vụ phục vụ trong quân đội. Sự đoàn kết tất cả các tầng lớp nhân dân trên cơ sở chủ nghĩa yêu nước là nét đặc sắc của Đại Việt – Nhà nước phong kiến trẻ tuổi đầy sức sống lúc bấy giờ. Việc động viên tinh thần một cách có hiệu quả, nhằm tăng cường chủ nghĩa yêu nước, quyết tâm chiến đấu chống ngoại xâm do nhà Trần tiến hành trong dân chúng và trong quân đội, có tác động không nhỏ đến vấn đề này. Khi xuất hiện nguy cơ ngoại xâmthì toàn dân đã đứng lên chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Cuộc kháng chiến chống quân Mông Cổ thực sự có tính chất toàn dân. Những người nông dân công xã không tham gia quân đội triều đình và quân địa phương thì tự tổ chức thành các đội dân binh, hoạt động du kích. Nhân dân các làng, xã có những luỹ tre xanh dày đặc bảo vệ, kiên cường chống trả các cuộc tiến công của quân Mông Cổ, khi chúng đến lùng sục lương thực. Chính sách ngoại giao khôn khéo của nhà Trần trong quan hệ với các nước láng giềng – trước hết là với Chămpa – đã tạo nên một liên minh quân sự chống kẻ thù chung và điều này cũng có một vai trò nhất định đối với thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến. Nói về thắng lợi của các cuộc kháng chiến, phải kể đến tài năng sáng chói của các tướng lĩnh Đại Việt, trong đó kiệt xuất nhất là Trần Quốc Tuấn – vị Tổng chỉ huy các lực lượng vũ trang Đại Việt trong cuộc kháng chiến lần thứ hai và lần thứ ba. Ông đã trở thành vị anh hùng dân tộc. Ông là người đã vạch ra và thực hiện thành công một chiến lược tiến hành chiến tranh duy nhất đúng đắn để chống lại một kẻ thù có ưu thế hơn hẳn về số lượng. Chiến lược đó trước hết là phải biết dựa vào dân. Trong các kế hoạch của mình, Trần Quốc Tuấn luôn luôn chú trọng phát huy sức mạnh của một cuộc chiến tranh nhân dân. Mặt khác, bằng mọi cách, ông cố gắng bảo toàn lực lượng chính quy để tấn công đối phương vào thời điểm thuận lợi nhất và để đánh đòn quyết định trong giai đoạn cuối cùng của cuộc chiến.

pdf63 trang | Chia sẻ: thuychi20 | Ngày: 01/04/2020 | Lượt xem: 6 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Giáo trình lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ơ hội Đại Việt suy yếu, nước Chăm Pa dưới thời vua Chế Bồng Nga đã nhiều lần tấn công Đại Việt. Trong triều đình nhà Trần, thời Trần Nghệ Tông, nổi lên một nhân vật mới, đó là Hồ Quí Ly. Hồ Quí Ly người Diễn Châu, tiên tổ là người Hán, sang Giao Châu từ đầu thế kỷ 10. Dòng họ Hồ có quan hệ hôn nhân mật thiết với Hoàng tộc nhà Trần. Hồ Quí Ly có hai người cô làm phi của vua Trần Minh Tông. Một số người con của các bà này sau trở thành các vua Trần (Nghệ Tông, Duệ Tông.v.v.). Hồ Quý Ly cũng là phò mã của nhà Trần. Con gái Hồ Quý Ly cũng được gả cho vua Trần (Thuận Tông). Vì thế, Hồ Quý Ly - nhân sự bạc nhược của Thượng Hoàng Nghệ Tông - đã dần dần thâu tóm quyền lực trong triều. Năm 1395, Hồ Quý Ly được phong Nhập nội phụ chính thái sư bình chương quân quốc trọng sự, tước Tuyên trung vệ quốc đại vương. Năm 1397, Hồ Quý Ly ép Thuận Tông dời đô về An Tôn (Vĩnh Lộc, Thanh Hoá) và nhường ngôi cho con là Thiếu Đế, cũng là cháu ngoại của Hồ Quý Ly, lúc đó mới có 3 tuổi. Năm 1400, Hồ Quý Ly phế truất Thiếu Đế, tự lập làm vua, lấy niên hiệu là Thánh Nguyên, đổi quốc hiệu là Đại Ngu. - Thế thứ triều Trần (1225 - 1400) 1. Trần Thái Tông (1225 – 1258); họ và tên : Trần Cảnh. Vua sinh ngày 16 tháng 6 năm Mậu Dần (1218), tại làng Tức Mặc. 2. Trần Thánh Tông (1258 - 1278); họ và tên : Trần Hoảng. Vua sinh ngày 29 tháng 5 năm Canh Tý (1240), tại kinh thành Thăng Long. 3. Trần Nhân Tông (1278 - 1293); họ, tên : Trần Khâm. Vua sinh ngày 11 tháng 11 năm Mậu Ngọ (1278). 4. Trần Anh Tông (1293 - 1314); họ và tên : Trần Thuyên. Vua sinh ngày 17 tháng 9 năm Bính Tý (1276), tại kinh thành Thăng Long. 5. Trần Minh Tông (1314 - 1329); họ và tên : Trần Mạnh. Vua sinh năm Canh Tý (1300). Lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX - 48 - Trần Văn Bảo Khoa Lịch Sử 6. Trần Hiến Tông (1329 - 1341); Họ và tên : Trần Vượng. Vua sinh ngày 17 tháng 5 năm Kỷ Mùi (1319). 7. Trần Dụ Tông (1341 - 1369); họ và tên : Trần Hạo. Vua sinh ngày 19 tháng 10 năm Bính Tý(1336). 4. Dương Nhật Lễ (1369 - 1370), con người kép hát họ Dương. 5. Trần Nghệ Tông (1370 - 1372); họ và tên : Trần Phủ. Vua sinh vào tháng 12 năm Tân Dậu (1321). 6. Trần Duệ Tông (1372 - 1377); họ, tên : Trần Kính. Vua sinh ngày 2 tháng 6 năm Đinh Sửu (1337). 10. Trần Phế Đế (1377 - 1388); họ và tên : Trần Hiện. Vua sinh ngày 6 tháng 3 năm Tân Sửu (1361). 11. Trần Thuận Tông (1388 - 1398); Họ, tên : Trần Ngung. Vua sinh năm Mậu Ngọ (1378). 12. Trần Thiếu Đế (1398 - 1400); họ, tên : Trần An. Vua sinh năm Bính Tý 1396 III. Triều Hồ 1. Chính sách cải cách của Hồ Quý Ly Hồ Quý Ly ở ngôi một năm thì nhường ngôi cho con thứ là Hán Thương và lên ngôi Thượng Hoàng. Từ trước đó, họ Hồ đã tiến hành hàng loạt cải cách trên mọi lĩnh vực. Chính trị: Họ Hồ chủ trương tuyển lựa người có năng lực, không nhất thiết là Hoàng tộc vào trông coi quân đội. Quy định lại quy chế làm việc ở các địa phương theo cách thức “ lộ coi phủ, phủ coi châu, châu coi huyện...” Kinh tế: Năm 1937, Hồ Quý Ly ban hành phép “hạn điền”, quy định trừ đại vương và trưởng công chúa được sở hữu không hạn định, cho đến thứ dân không được phép chiếm quá 10 mẫu, số ruộng dôi ra phải sung công. Năm 1396, Họ Hồ cho ban hành tiền giấy, gọi là Thông bảo hội sao, thu hồi tiền đồng. Đồng thời, Triều Hồ cho quy định lại biểu thuế, thống nhất về cân và đo lường. Xã hội: Triều Hồ cho làm lại hộ khẩu, kê từ người 2 tuổi trở lên và ban hành chính sách “hạn nô”, quy định các nhà quyền quý chỉ được phép nuôi trong nhà không quá 3 nô tì, số dư ra phải sung công. Lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX - 49 - Trần Văn Bảo Khoa Lịch Sử Về văn hóa, Triều Hồ có một số sửa đổi về thi cử, thi Hương ở địa phương và thi Hội ở kinh thành. bổ sung thêm trường thứ năm thi toán và viết chữ. Bản thân Hồ Quý Ly là người tích cực đề cao chữ Nôm. Nhận xét: Chính sách cải cách của Hồ Quý Ly là toàn diện, đề ra trong thời điểm đó là cần thiết nhằm giải quyết sự khủng hoảng cuối thời Trần, nhưng nội dung cải cách thiếu triệt để và chưa phù hợp. Hồ Quý Ly chủ trương xóa bỏ các đặc quyền đặc lợi của quý tộc Trần nhưng chưa đáp ứng được nguyện vọng của nông dân và nô tì. Tiền giấy chưa phù hợp với nền kinh tế hàng hóa còn thấp kém của nước ta thời đó. Tóm lại, ngoại trừ những cải cách về chính trị , văn hóa có ý nghĩa tích cực, những cải cách về kinh tế, xã hội của họ Hồ không những không khắc phục được sự khủng hoảng mà còn làm sâu sắc hơn những mâu thuẫn xã hội vốn có. 2. Cuộc xâm lược của nhà Minh và sự thất bại của triều Hồ Đầu thế kỷ 15, nhà Minh đã thay thế nhà Nguyên ở Trung quốc. Đến thời Minh Thành Tổ, nhà Minh đạt đến giai đoạn cường thịnh nhất (1402 – 1424). Lấy cớ hỏi tội cướp ngôi của Họ Hồ, nhà Minh đã phát động một cuộc chiến tranh xâm lược nước ta vào năm l406. Từ cuối đời Trần, nhà Minh đã lợi dụng sự suy yếu của vương triều này, để tiến hành các hoạt động do thám và khiêu khích. Sang thế kỷ XV, dưới triều Minh Thành tổ (1402 - 1424), nhà Minh đạt đến giai đoạn cường thịnh và trở thành quốc gia phong kiến giàu mạnh trên thế giới lúc đó. Chính trong giai đoạn này, nhân sự sụp đổ của triều Trần, lấy cớ trừng phạt họ Hồ cướp ngôi, nhà Minh đã thực hiện âm mưu xâm lược nước ta. Năm 1406, nhà Minh phái một đạo quân hộ tống đưa một quý tộc tôn thất họ Trần đang sống lưu vong trên đất Minh là Trần Thiêm Bình về nước, hòng dựng lên một triều vua bù nhìn làm tay sai cho giặc. Nhà Minh định tái diễn màn kịch Trần Di Aùi của nhà Nguyên hồi thế kỷ XIII. Nhưng nhà Hồ đã bố trí quân mai phục, đánh tan đạo quân hộ tống và bắt sống Trần Thiêm Bình về kinh xử tội lăng trì. Trước nguy cơ xâm lược ngày càng đến gần, nhà Hồ một mặt áp dụng những biện pháp đối ngoại mềm dẻo cố trì hoãn chiến tranh, mặt khác ra sức chuẩn bị kháng chiến. Nhưng phương thức chuẩn bị kháng chiến chủ yếu của nhà Hồ là lo tăng cường số lượng quân đội thường trực, sắm sửa vũ khí và xây dựng các tuyến phòng thủ. Các cửa biển và cửa sông hiểm yếu đều cắm cọc gỗ và chăng lưới sắt. Một phòng tuyến quy mô lớn được xây dựng gấp rút, kéo dài từ núi Tản Viên (Hà Lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX - 50 - Trần Văn Bảo Khoa Lịch Sử Tây) theo bờ sông Đà, sông Hồng cho đến cửa sông Ninh giang (Nam Hà), rồi lại tiếp tục theo bờ sông Luộc, sông Thái Bình đến Bình Than (Hà Bắc) dài 700 dặm. Thành Đa Bang (Ba Vì – Hà Tây) được coi là cứ điểm then chốt bảo vệ phòng tuyến đó. Ngày 19 Tháng 11 năm 1406, quân Minh bắt đầu vượt biên giới tiến vào nước ta. Nhà Minh huy động vào cuộc chiến tranh xâm lược này một lực lượng viễn chinh lớn gồm trên 20 vạn bộ binh, kị binh và hàng chục vạn phu phục dịch. Trước các mũi tiến công của địch, quân đội nhà Hồ có chặn đánh một số nơi rồi rút về giữ phòng tuyến Nam sông Hồng. Quân Minh hội quân và tập trung binh lực vượt sông Hồng đánh chiếm thành Đa Bang. Ngày 20 tháng 1 năm 1407, thành Đa Bang thất thủ và tuyến phòng thủ của quân đội nhà Hồ tan vỡ nhanh chóng. Từ Đa Bang, quân địch tràn xuống chiếm kinh thành Thăng Long ngày 22 tháng 1. Quân đội nhà Hồ rút lui xuống mạn hạ lưu sông Hồng và sau vài trận phản công thất bại, phải rút vào Tây Đô (Thanh Hoa)ù. Quân Minh thừa thắng đuổi theo và đến tháng 6 năm 1407 thì Hồ Quý Ly cùng với những người lãnh đạo triều Hồ bị sa vào tay giặc. Nhà Hồ chống đỡ với quân xâm lược chỉ được nửa năm. Đất nước sau hơn năm thế kỷ giành và giữ vững nền độc lập, đã từng chiến thắng hiển hách nhiều đạo quân xâm lược lớn mạnh và tàn bạo của phonh kiến phương Bắc, nay lại bị nước ngoài đô hộ. Sự đổ nát của triều Trần đã tạo cơ hội cho kẻ thù lăm le xâm lược. Hồ Quý Ly cướp ngôi một cách bất chính, sau khi nắm chính quyền lại thi hành nhiều chính sách nhằm thâu tóm quyền hành và lợi ích vào tay dòng họ thống trị. Vì vậy, triều Hồ tuy mới thành lập đã mất lòng dân và do đó không đoàn kết được toàn dân, không phát huy được sức mạnh vĩ đại của dân tộc để chống giặc giữ nước. Chúng ta không nghi ngờ gì về quyết tâm kháng chiến của họ Hồ. Nhưng những cải cách của Hồ Quý Ly chưa đáp ứng đúng nhu cầu phát triển của xã hội. Lúc đó nhân dân ta đã chán ghét sự thối nát của triều Trần. Đòi hỏi hàng đầu đối với chính quyền mới là phải đặt lợi ích dân tộc, sự tồn vong của đất nước lên trên lợi ích dòng họ. Muốn làm được điều đó phải xây dựng khối đoàn keỏt dãn toọc. Hó Hồ, do sự ích kỷ của mình, đã tự xa rời nhân dân, vì chỉ đơn độc dựa vào lực lượng quân sự, nên đã nhanh chóng bị quân Minh đánh bại. Chính do sự thất bại này khiến cho triều Hồ chỉ chiếm một vị trí thấp kém trong chính sử Đại Việt thời phong kiến. Sự thất bại của triều Hồ đã làm đất nước ta rơi vào ách thống trị tàn khốc của nhà Minh trong vòng hai chục năm. Sau khi đánh bại triều Hồ, quân Minh thủ tiêu nền độc lập dân tộc, phá hủy cơ cấu nhà nước và âm mưu đưa nước ta trở lại chế độ quận huyện của thời kỳ Lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX - 51 - Trần Văn Bảo Khoa Lịch Sử Bắc thuộc. Tháng 4 năm 1407, nhà Minh đổi nước ta làm quận Giao Chỉ. Từ đó, một bộ máy đô hộ nước ngoài được thiết lập từ quận xuống đến phủ, châu, huyện. Trong chính quyền đô hộ, bọn quan lại do nhà Minh cử sang nắm giữ các chức vụ chủ chốt và bên cạnh đó, chúng cố tạo ra một đội ngũ thổ quan khá đông. Bọn này được tuyển chọn trong số những quý tộc phản bội và những phần tử vong bản trong xã hội. Về quân sự, bên cạnh số quân Minh giữ vai trò nòng cốt, chúng cũng ra sức tuyển mộ thổ quân. Theo thể lệ quy định năm 1416 thì tùy nơi, cứ 2 hoặc 3 suất đinh thì chúng bắt 1 suất lính. Quân Minh dùng những thủ đoạn trấn áp, khủng bố tàn bạo. Khắp nơi chúng dựng lên những thành luỹ và đồn ải dày đặc. Giữa các cứ điểm quân sự lại có một hệ thống liên lạc bằng trạm dịch nối liền nhau để kịp thời tiếp ứng và cứu viện cho nhau. Với bộ máy bạo lực to lớn, quân thù ra lệnh tước đoạt mọi phương tiện tự vệ của nhân dân ta và càn quét, đàn áp dã man các sự phản kháng. Chúng cấm nhân dân ta không được sản xuất, tích trữ và sử dụng mọi thứ vũ khí. Sự đi lại làm ăn của người dân bị hạn chế và kiểm soát ngặt nghèo. Trong các cuộc càn quét, ngoài chém giết, cướp bóc, tàn phá chúng còn thi hành những thủ đoạn khủng bố điên cuồng như mổ bụng, thiêu sống, rán thịt người lấy mỡ Về mặt kinh tế, nhà Minh thi hành những chính sách và thủ đoạn bóc lột , vơ vét tham tàn. Chỉ tính riêng trong hơn nửa năm xâm lược (thánh 11 năm 1406 đến tháng 66 năm 1407), đạo quân viễn chinh của nhà Minh đã cướp đoạt của nhân dân ta vô số thóc gạo, trâu bò và các thứ của cải khác. Sau khi chính quyền đô hộ được thiết lập, chúng càng bóc lột một cách có hệ thống và nặng nề hơn. Nhà Minh đặt ra nhiều thứ thuế đánh vào mọi hạng người và nghề nghiệp làm ăn của nhân dân. Riêng thuế ruộng tư, chúng tăng lên gấp 3 lần so với đời Hồ. Về muối, chúng nắm độc quyền mua bán để khống chế đời sống của nhân dân. Tất cả dân đinh từ 16 đến 60 tuổi, hàng năm phải đi phu lao dịch trong các cộng trường xây dựng thành lũy, dinh thự hay đi khai mỏ vàng, mỏ bạc ở miền núi, mò ngọc trai dưới biển. Ngoài ra, chúng còn bắt hàng loạt thợ thủ công, thầy thuốc cho đến cả phụ nữ, trẻ em, đem về nước phục dịch. Trong số những nạn nhân đó, có người bị bán làm nô tỳ, có người phải biệt xứ, không được trở về tổ quốc. Những thủ đoạn bóc lột của kẻ thù đã gây ra không biết bao tang tóc, điêu linh cho nhân dân. Nhưng tham vọng của nhà Minh không phải chỉ dừng lại ở sự bóc lột vơ vét để làm giàu cho giai cấp thống trị phương Bắc, mà còn muốn vĩnh viễn nô dịch nhân dân ta, sáp nhập đất nước ta vào lãnh thổ quốc gia phong kiến Lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX - 52 - Trần Văn Bảo Khoa Lịch Sử nhà Minh. Với mưu đồ đó, chúng ra sức thủ tiêu các di sản văn hoá của dân tộc và thi hành chính sách đồng hoà ráo rết. Triều Minh đã nhiều lần ra lệnh cho bọn tướng xâm lược tịch thu, tiêu hủy các thứ sách vở, disản văn hóa của dân tộc. Chúng còn bắt nhân dân ta thay đổi cả phong tục tập quán, cho đến cả cách ăn mặc cũng phải theo lối phương Bắc. 3. Phong trào kháng chiến chống quân Minh từ 1407 đến 1417. Dưới ách đô hộ của nhà Minh, nhân dân ta không ngừng vùng lên khởi nghĩa. Ở hầu khắp vùng đồng bằng, ngay cả vùng ngoại vi thành Đông Quan, liên tiếp bùng lên các cuộc khởi nghĩa. Nghĩa quân hoạt động ráo riết dưới những hình thức phong phú như tập kích doanh trại của địch, tiến công chính quyền đô hộ, trừng trị bọn quan lại nhà Minh và bọn Việt gian, phá nhà tù giải phóng các tù phạm, phá cầu phao ngăn chặn việc đi lại của địch, mai phục chặn đánh các cuộc hành quân của chúng v.v Bên cạnh những cuộc bạo động lẻ tẻ, từ cuối năm 1407 đã xuất hiện những cuộc khởi nghĩa lớn, có tổ chức, phạm vi hoạt động rộng. Đó là những cuộc khởi nghĩa do Trần Ngỗi (1407 - 1409), Trần Quý Khoáng (1409 - 1413), Phạm Ngọc (1419 - 1420), Lê Ngã (1419 – 1420) lãnh đạo. Trần Ngỗi và Trần Quý Khoáng là những quý tộc yêu nước thuộc dòng họ Trần. Do đó, mục tiêu của cuộc khởi nghĩa là đánh đổ quân Minh, giành lại độc lập đồng thời khôi phục triều Trần. Cuộc khởi nghĩa đã tập hợp được một số quý tộc, quan lại yêu nước và được nhân dân một số vùng ủng hộ. Nghĩa quân có lúc đã giải phóng được khu vực từ Thanh Hoá trở vào và từ đó, mở nhiều cuộc tiến công ra Bắc, gây cho quân Minh nhiều thiệt hại. Đặc biệt, tháng 12 năm 1408, nghĩa quân của Trần Ngỗi đã chiến thắng một trận lớn ở Bô Cô (Nam Hà), tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, giết chết một số tướng cao cấp của địch. Nhưng do uy tín và năng lực hạn chế của bộ phận lãnh đạo nên cuộc khởi nghĩa không phát triển thành trung tâm đoàn kết phong trào cả nước và cuối cùng bị thất bại. 4. Khởi nghĩa Lam Sơn Năm 1416, tại núi rừng Lam Sơn (Thọ Xuân – Thanh Hoá), Lê Lợi cùng 18 người bạn thân tín nhất làm lễ tuyên thệ nguyện một lòng sống chết vì sự nghiệp đuổi giặc cứu nước. Lễ thề đó đặt cơ sở đầu tiên cho việc tổ chức cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Lê Lợi sinh ngày 10 tháng 9 năm 1385 trong một gia đình “đời đời làm quân trưởng một phương” (văn bia Vĩnh Lăng), có uy tín và ảnh hưởng một vùng rộng lớn ở Thanh Hoá. Ông là một người yêu nước, cương trực và khảng khái. Trước cảnh nước mất, nhân dân lầm than, ông rất đau lòng và từ lâu đã nuôi chí diệt Lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX - 53 - Trần Văn Bảo Khoa Lịch Sử giặc cứu nước. Ông đã đem tất cả tâm huyết, hiến dâng tài sản của mình cho việc thực hiện lý tưởng cao cả đó. Sau lễ thề, công việc chuẩn bị khởi nghĩa được tiến hành bí mật nhưng rất khẩn trương. Tại núi rừng Lam Sơn đang nhen lên một đốm lửa mà ánh sáng của nó ngày càng toả chiếu khắp nơi để tạo nên một đám cháy rừng không một bạo lực nào ccó thể dập tắt được. Các anh hùng hào kiệt, những người yêu nước ở thanh Hoá và khắp bốn phương của đất nước, theo ánh sáng của chính nghĩa, lần lượt tìm về Lam Sơn tụ nghĩa. Nguyễn Trãi bị quân Minh giam lỏng ở thành Đông Quan đã tìm cách vượt khỏi vòng cương tỏa của quân thù, sớm có mặt ở Lam Sơn để cùng với Lê Lợi lo tổ chức và lãnh đạo cuộc khởi nghĩa. Nguyễn Trãi sinh năm 1380 tại kinh thành Thăng Long, quê vốn ở vùng Chi Ngại (Chí Linh, Hải Hưng), sau dời về làng Nhị Khê (Thường tín, Hà Tây). Ông đỗ thái học sinh năm 1400 và có thời làm quan cho triều Hồ. Ông là một sỹ phu yêu nước thương dân tha thiết, một nhà bác học uyên thâm có tài cao đức trọng. Sau khi cuộc kháng chiến của nhà Hồ thất bại, cha ông là Nguyễn Phi Khanh bị giặc bắt đi đày và ông cũng bị quân Minh giam lỏng ở thành Đông quan để hòng dụ dỗ, mua chuộc. Trong một thời gian, ông phải tạm thời im hơi lặng tiếng, nhẫn nhục để che mắt quân thù nhưng vẫn theo dõi thời cục và đau lòng nát óc suy tính kế hoạch đuổi giặc cứu nước. Ông tìm đến Lam Sơn với tập Bình Ngô sách, trong đó vạch những đường lối, phương châm cơ bản để đưa cuộc chiến tranh giành độc lập đến thắng lợi. Lê Lai, Nguyễn Thận, Đinh Lễ ở vùng Lam Sơn cho đến Lưu Nhân Chú, Phạm Cuống từ Thái Nguyên (Bắc Thái), Nguyễn Xí từ Nghệ An, Trần nguyên Hán từ Lập Thạch (Vĩnh Phú), Phạm Văn Xảo từ vùng kinh thành và biết bao anh hùng không tên tuổi khác từ các nơi đã tụ họp dưới lá cờ đại nghĩa của Lê Lợi. Đó là những người con ưu tú của dân tộc thuộc các thành phần xã hội và dân tộc khác nhau, người miền xuôi có, miền núi có, nhưng tất cả đều chung một nhiệt tình yêu nước tha thiết, một chí căm thù giặc sâu sắc và cùng chung một lý tưởng quết tâm giải phóng đất nước. Ngày 7 tháng 2 năm 1418 (ngày 2 tháng 1 năm Mậu Tuất), trong không khí ngày tết cổ truyền của dân tộc, Lê Lợi và nghĩa quân dựng cờ khởi nghĩa ở Lam Sơn. Lê Lợi tự xưng là Bình Định vương, truyền hịch đi khắp nơi kêu gọi nhân dân nhất tề vùng lên đuổi giặc cứu nước. Ngọn cờ Lam Sơn khởi nghĩa từ đó tung bay trên bầu trời tổ quốc, tiêu biểu cho tinh thần yêu nước chính nghĩa, ý chí đoàn kết đấu tranh của toàn dân. Nghĩa quân Lam Sơn từ tay không mà xây dựng lực lượng. Lúc mới khởi sự, số lượng nghĩa quân không quá 2 000 người. Đó là lúc “cơm ăn thì sớm tối Lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX - 54 - Trần Văn Bảo Khoa Lịch Sử không được hai bữa, áo mặc thì hè đông chỉ có một manh, quân lính chỉ độ vài nghìn, khí giới thì thật tay không”. Trong lúc đó, quân thù đã thiết lập xong chính quyền đô hộ, nắm trong tay tất cả các cơ quan bạo lực và có một lực lượng quân sự to lớn. Nghĩa quân Lam Sơn bước vào cuộc chiến đấu một mất một còn với quân thù trong tương quan lực lượng vô cùng chênh lệch. Nhưng nghĩa quân vẫn một lòng tin vào thắng lợi của cuộc chiến đấu vì độc lập dân tộc. Như Nguyễn Trãi đã nói trong Bình Ngô đại cáo: “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân Quân điếu phạt trước lo trừ bạo” Lực lượng nghĩa quân tuy còn nhỏ, nhưng ngay từ đầu đã ở vào thế cao hơn địch về mặt tinh thần, tư tưởng. Ý thức sâu sắc về quyền độc lập thiêng liêng của dân tộc được nâng lên thành ý thức về chính nghĩa, lòng tin vững chắc vào sức mạnh và thắng lợi cuối cùng của cuộc đấu tranh vì chính nghĩa. Sau khi vùng lên khởi nghĩa, nghĩa quân biến vùng rừng núi Lam Sơn thành căn cứ đầu tiên để tiến hành cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc. Trong giai đoạn đầu, từ năm 1418 đến 1423, cuộc chiến tranh diễn ra chủ yếu dưới hình thái chiến tranh du kích nhằm chống các cuộc vây quét của địch. Quân Minh thường dựa vào ưu thế binh lực, huy động những lực lượng lớn – có khi đến 10 vạn quân – để bao vây, càn quét hòng tiêu diệt cuộc khởi nghĩa. Nghĩa quân Lam Sơn phải dựa vào địa thế rừng núi của vùng thượng du và sự đùm bọc của nhân dân để tiến hành các hoạt động du kích, bẻ gãy các cuộc hành quân của địch. Trong các cuộc chiến đấu đó, nghĩa quân phải chịu đựng muôn vàn khó khăn gian khổ, vượt qua nhiều thử thách hiểm nghèo. Đã bao lần nghĩa quân bị bao vây ở núi Chí Linh (Thanh Hoá) và ở Khôi Huyện (Ninh Bình), hàng tháng trời cạn lương thực. Có lúc, sau cuộc vây quét của địch, lực lượng nghĩa quân bị tổn thất nặng nề, chỉ còn hơn 100 người. Nhưng đội du kích Lam Sơn đã vượt qua các chặng đường gian lao nguy khốn đó với một nghị lực phi thừơng, một tinh thần chiến đấu vô cùng ngoan cường, bền bỉ. Trong các cuộc chiến đấu ác liệt với quân thù, nghĩa quân Lam Sơn đã phát huy truyền thống anh hùng bất khuất của dân tộc và ghi vào lịch sử nhiều tấm gương sáng ngời chủ nghĩa anh hùng mà tiêu biểu nhất là hành động hy sinh cao cả và lẫm liệt của người anh hùng Lê Lai. Năm 1419, nghĩa quân bị bao vây lần thứ hai ở núi Chí Linh. Vòng vây của kẻ thù ngày càng khép chặt và lương thực của nghĩa quân đã cạn kiệt. Trước tình thế đó, tướng Lê Lai xin cải trang thành Lê Lợi, dẫn 500 quân cảm tử ra phá Lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX - 55 - Trần Văn Bảo Khoa Lịch Sử vòng vây để đánh lạc hướng quân thù. Quân Minh tập trung lại bao vây để bắt sống Lê Lai và tiêu diệt đội quân cảm tử. Nhờ đó cuộc khởi nghĩa thoát khỏi một cơn hiểm nghèo. Lê Lai người làng Dựng Tú (Ngọc Lạc – Thanh Hoá), ông cha đời đời làm phu đạo vùng này. Cả gia đình Lê Lai gồm hai anh em và ba người con trai, đều tham gia cuộc khởi nghĩa và bốn người đã hy sinh anh dũng trong chiến đấu. Hành động xả thân của Lê Lai đã trở thành một hình tượng anh hùng không bao giờ phai nhạt trong ký ức của dân tộc ta. Bằng những hoạt động du kích lợi hại và quán triệt tư tưởng tiến công chủ động, liên tục, nghĩa quân Lam Sơn đã bảo toàn và phát triển được lực lượng, đánh lui các cuộc vây quét lớn và tiêu hao một phần sinh lực địch. Căn cứ của nghĩa quân không ngừng được mở rộng từ vùng lưu vực sông Chu lên lưu vực sông Mã. Như Nguyễn Trãi đã nói: “thế là bởi tai nạn nhiều là gốc dựng nước, lo nghĩ nhiều là cái nền mở nghiệp thánh. Trải nhiều biến thì mưu kế sâu, tính việc xa thì thành công kỳ” (bài phú núi Chí Linh). Nghĩa quân lam Sơn đã ra đời và trưởng thành trong sự tôi luyện của ngọn lửa chiến tranh giải phóng dân tộc. Giai đoạn hoạt động du kích ở miền rừng núi Thanh Hoá kết thúc bằng một thời gian đình chiến với quân Minh trong khoảng hơn 1 năm (tháng 5 năm 1423 đến tháng 10 năm 1424). Mục đích của cuộc thương lượng đình chiến đó, theo Nguyễn Trãi, là “bên ngoài giả thác hòa thân” để “bên trong lo rèn chiến cụ” “quyên tiền, mộ lính, giết voi khao quân” (bài phú núi Chí Linh). Nghĩa quân tranh thủ thời gian hòa hoãn ngắn ngủi đó để tăng cường lực lựơng về mọi mặt, chuẩn bị cho cuộc chiến đấu mới. Cũng trong thời gian đó, Nguyễn Trãi được giao phó đẩy mạnh một cuộc chiến tranh ngoại giao phức tạp để kéo dài thời gian hòa hoãn. Trước tình hình mới, tướng Nguyễn Chích đề nghị rời bỏ vùng căn cứ núi rừng ở Thanh Hoá, tiến vào chiếm lấy Nghệ An là “nơi hiểm yếu, đất rộng người đông” để làm bàn đạp đẩy mạnh cuộc tiến công, tiến lên hoàn thành nhiệm vụ giải phóng dân tộc. Nguyễn Chích là một nông dân nghèo, quê ở Vạn Lạc (Đông Sơn – Thanh Hoá). Trước đây, ông đã lãnh đạo một cuộc khởi nghĩa chống quân Minh, hoạt động ở vùng Nam Thanh Hoá, Bắc Nghệ An. Sau khi Lê Lợi khởi nghĩa ở Lam Sơn, ông đem toàn bộ lực lượng gia nhập cuộc khởi nghĩa này và giữ chức thiếu uý trong bộ chỉ huy nghĩa quân. Ông là một tướng chỉ huy xuất sắc, một nhà chiến lược quân sự tài giỏi. Lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX - 56 - Trần Văn Bảo Khoa Lịch Sử Theo kế hoạch sáng suốt của Nguyễn Chích, nghĩa quân mở cuộc hành quân chiến lược, tiến vào giải phóng Nghệ An. Sau khi hạ thành Trà Lân (Con Cuông, Nghệ An) và đánh bại quân Minh hai trận lớn ở Khả Lưu, Bồ Aûi (Anh Sơn, Nghệ An), nghĩa quân bắt đầu vây hãm thành Nghệ An (Hưng Nguyên – Nghệ An). Khắp phủ Nghệ An, nhân dân miền xuôi, miền núi vùng lên mạnh mẽ, góp phần với nghĩa quân tiến công các đồn luỹ của địch, giải phóng các châu huyện. Chính quyền của địch tan vỡ từng mảng và khu vực giải phóng được mở rộng nhanh chóng. Hàng loạt thanh niên hăng hái gia nhập đội ngũ nghĩa quân. Chỉ riêng ở Trà Lân, hơn 5 000 thanh niên đã được tuyển lựa vào nghĩa quân. Chỉ trong vòng nửa năm, toàn phủ Nghệ An đã được giải phóng (trừ thành Nghệ An đang bị vây hãm). Một căn cứ mới rộng lớn được thành lập, bao gồm cả vùng rừng núi hiểm yếu và miền đồng bằng đông dân, giàu của. Đó là một cơ sở vững chắc đưa cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc tiến lên giành thắng lợi mới. Tháng 6 năm 1425, nghĩa quân tiến ra giải phóng phủ Diễn Châu (Bắc Nghệ An) rồi thừa thắng tiến công ra Thanh Hoá. Nhân dân ở đây vô cùng phấn khởi, nhất tề nổi dậy hưởng ứng cuộc khởi nghĩa. Chưa đầy một tháng, nền thống trị của địch ở Thanh Hoá hoàn toàn bị sụp đổ. Quân địch phải rút vào thành Tây Đô cố thủ. Tháng 8 năm 1425, một bộ phận nghĩa quân tiến vào giải phóng Tân Bình (Quảng Bình, Bắc Quảng Trị), Thuận Hoá (Nam Quảng Trị, Thừa Thiên). Sau vài trận đánh, quân địch bị tan rã nhanh chóng. Cả một vùng rộng lớn được giải phóng, hai vạn thanh niên ở đây nô nức xin gia nhập nghĩa quân. Trong hơn một năm, kể từ khi tiến quân vào Nghệ An, nghĩa quân Lam Sơn đã liên tiếp giành được những thắng lợi to lớn và phát triển vượt bậc về mọi mặt. Khu vực giải phóng được mở rộng từ Thanh Hoá vào đến đèo Hải Vân. Đội du kích Lam Sơn đã trưởng thành trong chiến đấu và trở thành một lực lượng vũ trang hùng mạnh gồm hàng chục vạn quân, có đủ cả bộ binh, thủy binh, kỵ binh, tượng binh. Quân địch bị thất bại liên tiếp, đang chuyển dần sang thế phòng ngự để chờ quân tiếp viện. Bên kia biên giới, nhà Minh đã ra lệnh điều động 5 vạn quân do Vương Thông chỉ huy sang tăng viện. Tranh thủ thời gian khi quân địch đang hoang mang và viện binh chưa kịp sang, bộ chỉ huy nghĩa quân mở cuộc tiến công lớn ra Bắc. Tháng 9 năm 1426, ba đạo nghĩa binh gồm khoảng gần 1 vạn quân, được lệnh tiến sâu vào vùng chiếm đóng của địch, cùng với nhân dân tiến công tiêu hao sinh lực địch, mở rộng khu vực giải phóng và dồn địch vào thế phòng ngự bị động. Lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX - 57 - Trần Văn Bảo Khoa Lịch Sử Cuộc tiến công đã nhanh chóng phát triển thành một cuộc nổi dậy rộng lớn của nhân dân do nghĩa quân Lam Sơn phát động và làm nòng cốt. Khắp nơi, nhân dân đã nổi dậy và sáng tạo ra vô số hình thức phong phú để góp phần vào cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc như gia nhập nghĩa quân, phục vụ kháng chiến, tiếp tế lương thực, tự vũ trang cùng phối hợp với nghĩa quân vây bức các đồn địch v.v . Lúc bấy giờ, đại bộ phận đất nước đã được giải phóng. Trên những vùng đó, một hệ thống chính quyền độc lập bước đầu được xây dựng. Hậu phương ngày càng được củng cố làm cơ sở vững chắc đưa cuộc chiến tranh yêu nước đến thắng lợi cuối cùng. Lực lượng nghĩa quân được tăng cường về số lượng cũng như chất lượng và trang bị vũ khí. Trên cơ sở đó, nghĩa quân tiếp tục vây hãm thành Đông Quan và các thành luỹ nằm sâu trong hậu phương của ta (như thành Nghệ An, Diễn Châu, Tây Đô, Cổ Lộng, Chí Linh ). Còn những thành lũy nằm trên hai đường tiếp viện của địch từ Vân Nam và Quảng Tây đến Đông Quan (như Điêu Diêu, Thị Cầu, Xương Giang, Khâu Oân) thì nghĩa quân kiên quyết tiêu diệt cho kỳ hết trước khi viện binh của nhà Minh kéo sang. Đặc biệt trong giai đoạn này, công tác vận động và thuyết phục kẻ thù được đẩy mạnh nhằm hỗ trợ đắc lực cho cuộc tiến công bằng quân sự. Nguyễn Trãi trực tiếp chỉ đạo và thực hiện nhiệm vụ địch vận một cách tài tình, sáng suốt và đưa lại những kết quả to lớn. Trước sự vây hãm và tiến công bằng quân sự của quân ta kết hợp với công tác địch vận, quân địch trong các thành Nghệ An, Diễn Châu, Tam Giang, Điêu Diêu, Thị Cầu lần lượt ra hàng. Riêng thành khâu Oân và Xương Giang, quân địch ngoan cố chống cự đến cùng nhưng cũng bị tiêu diệt trước khi viện binh kéo sang. Một cô hát ả đào ở Tiên Lữ (Hải Hưng) tên là Hụê cũng đã dùng lời ca tiếng hát và mưu trí của mình để tiêu diệt từng toán giặc khi chúng kéo về đánh đồn ở quê hương cô. Nhớ công ơn của người nghệ sỹ dân gian đó, dân làng đặt tên cho thôn cô là thôn Ả Đào và về sau lập đền thờ cô. Người phụ nữ làm nghề chài lưới ở sông Đáy không ngại gian lao nguy hiểm, chở đò cho nghĩa quân qua sông đánh giặc. Dân làng nhân Huệ (Thanh Oai, Hà Tây) cũng thờ người dân yêu nước bình thường đó làm thành hoàng. Do đó, nghĩa quân đi đến đâu cũng “chật đất người theo, đầy đường rượu bày” và “càng đánh càng thắng, đi đến đâu đánh tan đến đấy như phá vật nát, như bẻ cành khô” (Nguyễn Trãi). Trước sức mạnh to lớn của cuộc chiến tranh nhân dân, hệ thống chính quyền địch bị tan vỡ và phạm vi thống trị thu hẹp dần vào các thành lũy kiên cố và vùng ngoại vi các thành đó. Ngay cả sào huyệt của địch ở thành Đông Quan cũng bị uy hiếp. Lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX - 58 - Trần Văn Bảo Khoa Lịch Sử Quân địch đã phải chuyển sang thế phòng ngự bị động. Cuối tháng 10 năm 1426, chúng cố tập trung quân về bảo vệ thành Đông Quan. Một bộ phận quân địch ở Nghệ An đã vượt biển trốn về đây. Năm vạn quân tiếp viện do Vương Thông chỉ huy đã tiến sang vào đầu tháng 11. Số quân địch tập trung về thành Đông Quan tăng lên đến trên 10 vạn. Vương Thông dựa vào ưu thế binh lực đó, quyết định mở cuộc hành quân lớn nhằm quét sạch lực lượng nghĩa quân ở ngoại vi thành Đông Quan, giành lại thế chủ động và xoay chuyển lại tình hình. Lực lượng nghĩa quân đang hoạt động ở phía Nam và Tây Nam thành Đông Quan lúc bấy giờ do các tướng Phạm Văn Xảo, Lý Triện, Đinh Lễ, Nguyễn Xí chỉ huy, tuy số lượng ít hơn so với địch, nhưng vẫn quyết tâm chiến đấu bẻ gãy cuộc hành quân của Vương Thông. Trong 3 ngày đêm (từ ngày 5 đến ngày7 tháng 11 năm 1426) chiến đấu liên tục, vô cùng ác liệt và rất mưu trí, linh hoạt nghĩa quân đã làm thất bại hoàn toàn cuộc phản công của Vương Thông. Các nơi xảy ra kịch chiến như Cổ Lãm (Thanh Oai, Hà Tây), Tốt Động Chúc Động, Ninh Kiều (Chương Mỹ, Hà Tây) còn mãi in dấu chiến công của nghĩa quân Lam Sơn. Tại đó, trên 6 vạn quân địch đã bị tiêu diệt, những tên tướng cao cấp của địch như thượng thư Trần Hiệp, nội quan Lý Lượng phải bỏ mạng và ngay cả tổng binh Vương Thông cũng bị thương. Tháng 10 năm 1427, viện binh địch chia làm hai đạo tiến sang. Đạo quân thứ nhất gồm 10 vạn quân do Liễu Thăng chỉ huy từ Quảng Tây sang. Đạo quân thứ 2 do Mộc Thạnh chỉ huy gồm 5 vạn quân từ Vân Nam sang. Quân dân ta đã chuẩn bị mọi điều kiện để tiêu diệt viện binh của địch. Một bộ phận nghĩa quân vẫn tiếp tục vây hãm thành Đông Quan và các thành luỹ khác, một bộ phận tiến lên làm nhiệm vụ kiềm chế đạo quân Mộc Thạch. Còn đại bộ phận nghĩa quân tập trung vào chiến dịch Chi Lăng – Xương Giang nhằm tiêu diệt gọn đạo quân chủ lực do Liễu Thăng chỉ huy. Ngày 8 tháng 10, đạo quân Liễu Thăng vượt biên giới tiến vào vùng Lạng Sơn. Quân ta vừa đánh vừa rút lui để nhử địch vào trận địa mai phục đã bố trí sẵn ở ải Chi Lăng (Lạng Sơn). Chi Lăng là một cửa ải hiểm yếu nằm trên đường từ Lạng Sơn đến Đông Quan. Đó là một thung lũng nhỏ của thượng nguồn sông Thương, dài khoảng 4 km, rộng khoảng 1km, phía Tây là một dãy núi đá vôi lởm chởm, vách núi dựng đứng, phía Đông cũng là núi rừng trùng điệp. Giữa thung lũng đó có 5 ngọn núi nhỏ và những cánh đồng lầy lội. Do vị trí địa hình của nó, Chi Lăng đã chứng kiến nhiều chiến công của dân tộc trong các cuộc kháng chiến chống Tống, chống nguyên trước đây. Nhưng Chi Lăng nổi tiếngnhất trong lịch sử là do chiến công của nghĩa quân Lam Sơn cuối năm 1427. Lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX - 59 - Trần Văn Bảo Khoa Lịch Sử Nắm trong tay 10 vạn quân, Liễu Thăng tỏ ra rất kiêu căng, chủ quan. Đến gần cửa ải, hắn tự chỉ huy một đội kỵ binh tiến lên trước mở đường. Ngày 10 tháng 10, toàn bộ đội quân tiên phong của địch lọt vào trận địa mai phục và bị tiêu diệt gọn. Liễu Thăng bị chém chết trên sườn núi Mã Yên. Bị giáng một đòn sấm sét bất ngờ, quân địch hoảng hốt, đội hình bị rối loạn. Quân ta thừa thắng tiến công liên tục, tiêu diệt trên một vạn quân địch. Trong các trận đánh ở Chi Lăng, những đội dân binh địa phương đã tham gia tích cực, cùng sát cánh chiến đấu với nghĩa quân Lam Sơn. Đặc biệt đội dân binh vùng Chi Lăng do Lý Huề chỉ huy đã lập nhiều chiến công xuất sắc. Sau đó, quân địch chấn chỉnh lại đội ngũ, tiến về phía Đông Quan. Phó tướng Lương Minh lên nắm quyền chỉ huy. Ngày 15 tháng 10, quân địch lại bị chặn đánh quyết liệt ở Cần Trạm (Kép, Hà Bắc). Trong trận này, phó tướng Lương Minh bị giết chết cùng với hàng vạn quân địch. Đô đốc Thôi Tụ và thượng thư Lý Khánh lên chỉ huy, cố gượng tiến về thành Xương Giang mà chúng tưởng còn trong tay quân Minh. Nhưng mỗi bước đi của chúng đều phải trả giá rất đắt do những trận phục kích liên tục của quân ta. Ngày 18 tháng 10, thượng thư Lý Khánh khiếp sợ phải tự tử. Quân địch tiến gần đến thành Xương Giang thì mới biết rằng, thành này đã bị quân ta hạ 10 ngày trước khi chúng kéo vào biên giới và đã biến thành một pháo đài kiên cố chắn ngang trước mặt chúng. Quân địch vô cùng kinh hoảng, phải đóng lại giữa cánh đồng Xương Giang. Quân ta được tăng cường, tổ chức bao vây chặt bốn mặt. Ngày 3 tháng 11, quân ta tổng công kích, tiêu diệt gọn quân địch, bắt sống tất cả bọn tướng chỉ huy, thu được vô số vũ khí, quân trang và lương thực. Chiến thắng Chi Lăng – Xương Giang là chiến thắng có ý nghĩa quết định thắng lợi của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc. Nghe tin đạo quân Liễu Thăng bị tiêu diệt, đạo quân Mộc Thanch đang cầm cự ở vùng biên giới, vội tháo chạy. Quân ta truy kích giết trên 2 vạn, bắt sống được hơn1000 tên. Hai đạo viện binh bị diệt làm cho Vương Thông và quân địch trong các thành hoàn toàn tuyệt vọng, phải xin đầu hàng rút quân về nước. Thắng lợi của khởi nghĩa Lam Sơn - được tường thuật đại lược trong "Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi - một lần nữa làm rạng rỡ lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta. Thắng lợi này mở ra một thời kỳ cường thịnh mới của quốc gia phong kiến Đại Việt Lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX - 60 - Trần Văn Bảo Khoa Lịch Sử IV. Triều Lê (sơ) _ 1428-1527 Sau khi giành lại nền độc lập, ngày 29-4-1428, Lê Lợi lên ngôi Hoàng Đế, lấy niên hiệu là Thuận Thiên, đổi lại quốc hiệu là Đại Việt, đóng đô ở Đông Đô. - Đến triều Lê, chế độ trung ương tập quyền có chiều hướng tăng cường chế độ chuyên chế. Vua được thần thánh hoá và có uy quyền tuyệt đối. Dưới vua có tả hữu tướng quốc, tam thái, tam thiếu, bộc xạ. Dưới nữa là hai ban văn võ. Các cơ quan chuyên trách như Khu mật viện, Hàn lâm viện, Ngũ hình viện, Ngự sử đài.v.v. được cải tổ nhằm tăng cường sự chi phối của triều đình, hạn chế quyền lực địa phương. Đứng đầu các đạo là hành khiển. - Thời Lê Thánh Tông cả nước được chia thành 12 đạo thừa tuyên. Cơ sở hành chính hạ tầng được củng cố vững chắc. Dưới đạo là phủ, huyện,châu, hương và xã. Lê Thánh Tông bãi bỏ các chức vụ trung gian, vua trực tiếp kiểm soát lục bộ, bên cạnh các bộ còn lập thêm 6 khoa và sáu tự có chức năng kiểm soát và giúp việc. - Quan lại thời Lê đều tuyển qua khoa cử, ngoại trừ các tướng lĩnh có công lao, ngay cả quý tộc tôn thất cũng phải đỗ đạt qua thi cử mới được phong chức. Thánh Tông quy định chế độ lương bổng cho quan lại rõ ràng và thống nhất. - Bộ luật Hồng Đức ban hành năm 1443 là bộ luật hoàn chỉnh nhất nước ta đương thời. Bộ luật gồm 722 điều được chia thành 16 chương. Bộ luật này thể hiện rõ ý thức giai cấp của nhà Lê nhưng cũng phản ánh rõ nét tính dân tộc, qua các điều luật tiến bộ bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ và dân tự do. Lê triều hình luật chia thành 6 quyển, mỗi quyển có 2 chương (riêng quyển III có 6 chương). • Quyển I : Chương Danh lệ, gồm 49 điều. (Chương nói về tên và lệ luật các hình phạt) Chương Cấm vệ, gồm 47 điều (Chương nói về luật vệ cấm: bảo vệ những nơi cấm địa như cung miếu, lăng tẩm v. v.). • Quyển II: Chương Chức chế, gồm 144 điều (Chương nói về việc trái phép) Chương Quân chính, gồm 43 điều (Chương nói về việc quân chính) Lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX - 61 - Trần Văn Bảo Khoa Lịch Sử • Quyển III : Chương Hộ hôn, gồm 58 điều Chương Điền sản, gồm 32 điều Chương Điền sản mới, gồm14 điều Chương Điền sản tăng bổ gồm 04 điều Chương Xem xét định lại và tăng bổ luật Hương hỏa, gồm 09 điều Chương Thông gian, gồm 10 điều • Quyển IV: Chương Trộm cướp, gồm 54 điều Chương Đấu tụng, gồm 50 điều • Quyển V: Chương Trá ngụy, gồm 38 điều Chương Tạp luật, gồm 92 điều • Quyển VI: Chương Bộ vong, gồm 63 điều Chương Đoán ngục, gồm 65 điều - Quân đội thời Lê sơ là quân đội mạnh, được tố chức thành hai loại, quân cấm vệ và 5 đạo quân: Trung, Đông, Tây, Nam, Bắc. Chế độ binh dịch được quản lý chặt chẽ. Chính sách “Ngụ binh ư nông” được áp dựng từ thời Lý vẫn được duy trì dưới triều Lê. - Chính sách ruộng đất bảo vệ quyền sở hữu nhà nước về ruộng đất. Đại bộ phận ruộng đất trong nước lúc đó là ruộng đất công xã. Nhà vua, dưới danh nghĩa chủ sở hữu tối cao về ruộng đất đã đem một số ruộng đất công xã phong cấp cho công thần. Thời Lê Thánh Tông ban hành chính sách lộc điền và quân điền. Lộc điền là ruộng ban cấp cho quan lại từ tam, tứ phẩm trở lên. Quan lại chức thấp hơn chỉ được hưởng phần ruộng công xã theo chế độ quân điền Trong thời gian các triều vua Lê từ Thái tổ đến Thánh Tông (1428 - 1497), nước Đại Việt dần dần hồi phục và phát triển. Từ đầu thế kỷ 16, triều Lê bắt đầu suy vong. Nhìn chung, trong các giai đoạn đầu của các triều đại Lý - Trần - Lê sơ, chế độ phong kiến Việt Nam phát triển cường thịnh. Đó là nguyên nhân chủ yếu tạo nên sức mạnh của dân tộc, đẩy lùi các cuộc xâm lược của phong kiến phương Bắc. - Thế thứ triều Lê(sơ) 1. Lê Thái Tổ (1428 - 1433), họ và tên : Lê Lợi. Vua sinh ngày 6 tháng 8 năm Ất Sửu (1385), tại Chủ Sơn, Lôi Dương, nay thuộc Thanh Hoá. 2.Lê Thái Tông (1433 - 1442); họ, tên : Lê Nguyên Long. Vua sinh ngày 21 tháng 11 năm Quý Mão (1423). Lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX - 62 - Trần Văn Bảo Khoa Lịch Sử 3.Lê Nhân Tông (1442 1459); họ, tên : Lê Bang Cơ. Vua sinh ngày 9 tháng 6 năm Tân Dậu (1441). 4.Lê Nghi Dân (1459 - 1460); Vua sinh vào tháng 6 năm Kỉ Mùi (1439) 5.Lê Thánh Tông (1640 - 1497); họ, tên : Lê Tư Thành, Vua sinh ngày 20 tháng 7 năm Nhâm Tuất (1442). 6.Lê Hiến Tông (1497 - 1504); họ, tên : Lê Tranh, lại có tên khác là Lê Huy. Vua sinh ngày 10 tháng 8 năm Tân Tỵ (1461). 7.Lê Túc Tông (1504); họ, tên : Lê Thuần. Vua sinh ngày 3 tháng 8 năm Mậu Thân (1488). 8.Lê Uy Mục (1505 - 1509); họ và tên : Lê Tuấn, lại có tên khác là Lê Huyên. Vua sinh ngày 5 tháng 5 năm Mậu Thân (1488). 9.Lê Tương Dực (1510 - 1516); họ và tên : Lê Oanh (có thể đọc là Lê Oánh), lại có tên khác là Lê Trừ. Vua sinh năm Quý Sửu (1493) 10.Lê Chiêu Tông (1516 - 1522); họ, tên : Lê Y, lại có tên khác là Lê Huệ. Vua sinh ngày 4 tháng 10 năm Bính Dần (1506). 11.Lê Cung Hoàng (1522 - 1527); họ và tên : Lê Xuân, tên khác là Lê Khánh. Vua sinh ngày 26 tháng 7 năm Đinh Mão (1507) Tổng cộng triều Lê (sơ) trải 11 đời vua, tồn tại đúng một thế kỷ. V. Tóm lược nền văn hoá Đại Việt từ thế kỷ 11 đến thế kỷ 16 Sau thời Bắc thuộc, từ thế kỷ 11, nước ta bước vào thời kỳ tương đối ổn định dưới các triều đại lớn: Lý - Trần và Lê sơ. Đó là điều kiện cơ bản cho sự phát triến của văn hoá Đại Việt. Trong khuôn khổ giáo trình tóm tắt, chúng tôi chỉ giới thiệu vài nét về lĩnh vực mỹ thuật và giáo dục. Mỹ thuật : + Kiến trúc: Một mảng kiến trúc quan trọng thời kỳ Lý - là kiến trúc Phật giáo. Nhiều ngôi chùa lớn đã được xây dựng từ thời Lý như chùa Phật Tích, chùa Dâu, chùa Dám, chùa Diên Hựu. Kèm với Chùa là các tháp lớn như tháp Báo Thiên, tháp Phổ Minh.v.v. Kiến trúc cung đình cũng rất phát triển. Theo thư tịch, kinh thành Thăng Long thời Lý Trần có quy mô lớn rộng với nhiều cung, điện, lầu, gác. Do bị chiến tranh tàn phá, đến nay chỉ còn lại 21 di tích kiến trúc thời Lý, phần lớn nằm trên đất Kinh Bắc cũ. Lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX - 63 - Trần Văn Bảo Khoa Lịch Sử Kiến trúc thời Trần còn lại ít ỏi, đó là các lăng mộ ở vùng Thiên Trường, Chí Linh và một số chùa tháp ở Tức Mặc (Nam Định). Đặc điểm kiến trúc Lý là quy mô to lớn nhưng toát lên sự thanh thoát, tinh tế. Đặc điểm kiến trúc thời Trần là quy mô to lớn, vững chãi, bề thế và thiết thực, thể hiện sự chắc khỏe. Bố cục kiến trúc theo cụm, đăng đối quy tụ vào tâm điểm. Kiến trúc Lý- Trần gắn liền với môi trường tự nhiên xung quanh, tạo thành một quần thể thống nhất. Sang thời Lê Sơ, nền kinh tế đã bị suy thoái do chiến tranh, kiến trúc kém bề thế, quy mô nhỏ hơn. Hệ tư tưởng Nho giáo thịnh hành ảnh hưởng đậm nét tới mỹ thuật, làm cho kiến trúc thời Lê đi vào bố cục khuôn mẫu, công thức, theo kiểu chữ công, đăng đối theo trục dọc, khép kín, tạo cảm giác trang nghiêm. Thời Lê, Phật giáo bị hạn chế nên việc xây chùa, đúc chuông, tô tượng bị cấm. Thay vào đó là mảng kiến trúc đình làng khá phổ biến. Tính chất dân gian vốn đậm nét trong kiến trúc Lý- Trần, đã suy giảm dưới thời Lê, thay vào đó là lối kiến trúc cung đình, chịu ảnh hướng của kiến trúc nhà Minh. + Điêu khắc: Thời Lý - Trần tượng, phù điêu, tranh chạm được tạo hình chắc, khoẻ nhưng tinh tế đầy sức sống. Các tác phẩm điêu khắc giàu tính nghệ thuật nhưng cũng rất dung dị, chân thực. Nhìn chung, mỹ thuật Lý - Trần chịu ảnh hưởng đậm nét của mỹ thuật Phật giáo. Điêu khắc thời Lê ít hơn về số lượng, kích thước nhỏ, trang nghiêm. Đề tài thời này chịu ảnh hưởng của phương Bắc khi đề cập đến các đối tượng điêu khắc: cừu, lạc đà, tê giác một sừng. Chủ đề Tứ linh, Tứ quý cũng khá phổ biến trong điêu khắc thời Lê. + Gốm sứ: Sự thanh mảnh, trau chuốt của gốm sứ thời Lý chuyển dần sang sự chắc khỏe, đơn giản, phóng khoáng, đậm nét dân gian của gốm sứ Trần. Gốm men ngọc, gốm hoa nâu là các loại gốm phổ biến thời kỳ này. Gốm hoa lam bắt đầu phoồ bieỏn tửứ cuoỏi thụứi Trần và trong suốt thời Lê. Hoa văn dùng lối khắc vạch, in hoặc đắp nổi. Đề tài thường là dây hoa lá: hoa sen, hoa cúc, hoa chanh... tạo thành dải. Gốm sứ Lê sơ cân đối, chính xác, tạo hình đơn giản, cốt gốm khi nung xong có màu xanh, được tạo hoa văn trang trí rồi mới phủ men trắng ra bên ngoài. Hình vẽ trên gốm bằng bút lông mềm mại, tự nhiên như hình vẽ trên giấy. Hoa văn dùng đề tài mây, sóng nước, long, ly hoặc hình kỷ hà. Ta thường gặp cách trình bày theo lối tạo hoa văn chạy quanh miệng và thân gốm. Lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX - 64 - Trần Văn Bảo Khoa Lịch Sử Nhìn chung, mỹ thuật Đại Việt thế kỷ Xl đến thế kỷ XVl phát triển khá rực rỡ. Nền mỹ thuật Lý - Trần - Lê sơ ra đời trong các vương triều phong kiến Đại Việt cường thịnh, trở thành một giai đoạn quan trọng trong lịch sử mỹ thuật nước ta. Giáo dục khoa cử : Dưới triều Lý, từ năm 1075, với việc xây dựng Văn Miếu (Quốc tử giám), nền giáo dục độc lập của nước ta đã ra đời. Nhưng phải đến thế kỷ thứ 13, hệ thống trường học công, tư ở các phủ huyện mới được thành lập. Đến thời Trần - Lê sơ các khoa thi đã được mở thường xuyên: Thi Hương ở địa phương và thi Hội ở kinh đô. Những người đỗ đạt danh hiệu Thái học sinh, Tiến sĩ được bổ nhiệm vào giới quan trường. Năm 1247, nhà Trần đặt lệ Tam khôi (Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa). Năm 1304, nhà Trần quy định thứ tự 4 trường thi : - Trường 1: thi ám tả - Trường 2: thi kinh nghi, kinh nghĩa, thơ, phú - Trường 3: thi chiếu, chế, biểu - Trường 4: thi văn sách Đến năm 1396, Hồ Quý Ly bỏ trường thi ám tả, thay vào đó là thi kinh nghi, kinh nghĩa và đặt thêm trường thi toán. Nội dung học và thi cử thời kỳ này khá nghèo nàn, chủ yếu nghiên cứu về tam giáo (Nho, Đạo, Phật). Ngôn ngữ sử dụng trong giáo dục, khoa cử là chữ Hán. Chữ Nôm chưa thực sự phổ biến. Chính vì vậy tầng lớp trí thức thời kỳ này có kiến thức phiến diện, sáo rỗng, thiếu thực tiễn.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfkhxh0017_p1_7909.pdf
Tài liệu liên quan