Đô thị cổ Việt Nam - Thành Thăng Long

Đô thị cổ Việt Nam - Thành Thăng Long LỜI NÓI ĐẦU Chẳng bao lâu nữa - Vào năm 2010 - Hà Nội sẽ long trọng kỷ niệm lần thứ 1000 ngày sinh của mình. Nhìn lại những chặng đường đấu tranh đầy gian nan, thử thách của dân tộc Việt Nam để tồn tại và phát triển, Thủ đô Hà Nội có quyền tự nào về những đóng góp xứng đáng của mình. Những đóng góp đã được ngày một bồi đắp thêm để trở thành truyền thống Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội rất đỗi hào hùng của các thế hệ con người Thủ đô thanh lịch. Truyền thống có bề dày lịch sử hàng nghìn năm đã luôn luôn là những động lực to lớn tiếp sức cho Hà Nội vượt qua mọi khó khăn vươn lên phía trước. Trên cơ sở những thành tựu to lớn đã đạt được những công cuộc đổi mới hiện nay. Hà Nội đang tiếp tục phấn đấu vượt qua thử thách và khắc phục những nhược điểm để chuyển mạnh sang thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xứng đáng với vị trí là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học, kỹ thuật của cả nước, xứng đáng với lòng yêu mến của đồng bào cả nước và bạn bè gần xa: “Hà Nội - trái tim của cả nước, thủ đô phẩm giá của con người”. Với trái tim và niềm vinh dự, tự hào về Thăng Long, Đông Đô - Hà Nội - Tôi rất vinh dự được học tập tại đây, trên mái trường Đại học Tổng hợp - để tìm hiểu thêm về Thăng Long - Sau đây là một bài tiểu luận nhỏ của bản thân về Đô thị cổ Thăng Long. I. Thăng Long - Đông Đô - Đông Kinh - Hà Nội Thế kỷ XI - XIX 1. Định đô Thăng Long Cuối 1009, tại Hoa Lư (Ninh Bình) Lý Công Uẩn được lập lên làm vua, sáng lập ra vương triều Lý (1009 - 1225). Hoa Lư là Kinh đô của nước Đại Cồ Việt dưới hai triều Đinh (968 - 979) và Tiền Lê (980 - 1009). Đó là một vùng núi non hiểm trở, thích hợp với yêu cầu quân sự của chính quyền độc lập non trẻ còn phải đối phó với nhiều mối đe dọa của thù trong giặc ngoài với địa thế lợi hại của Hoa Lư, triều Đinh đã đánh bại các thế lực cát cứ địa phương, khắc phục và củng cố nền thống nhất quốc gia, triều Tiền Lê đã đập tan nạn xâm lược lần thứ nhất của nhà Tống, bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc. Trong vòng 41 năm (968 - 1009). Kinh đô Hoa Lư xứng đáng với sự lựa chọn của Đinh Tiên Hoàng và Lê Đại Hành, đã làm tròn vai trò lịch sử của nó. Nhưng những thành quả bảo vệ và củng cố độc lập dân tộc gắn liền với thống nhất Quốc gia thời Ngô, Đinh, tiền Lê đã điều kiện đưa đất nước bước vào một thời kỳ mới: thời kỳ xõy dựng đất nước trên quy mô lớn, thời kỳ phục hưng toàn diện của dân tộc và nền văn hóa dân tộc. Nhiệm vụ lịch sử đó được đặt ra trước triều Lý từ khi mới thành lập, và trước yêu cầu mới của lịch sử, Hoa Lư với vị thế của nó, không đáp ứng được vai trò kinh đô của cả nước. Lý Công Uẩn tức Lý Thái tổ, vị vua sáng nghiệp của triều Lý đã nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của Kinh thành đối với vận mệnh của đất nước và Vương triều. Theo ông, việc định đô không thể “theo ý riêng”, không thể “tự tiện chuyển đổi”, mà phải mưu toan việc lớn, tính kế cho con cháu “muôn vạn đời”. Ông nhận thấy “Thành Hoa Lư ẩm thấp, chật hẹp, không đủ làm chỗ ở của Đế vương, muốn dời đi nơi khác”. Đầu năm 1010, Lý Công Uẩn tự tay viết chiếu dời đô, nói rõ lý do dời đô và quyết định chọn thành Đại La ( Hà Nội) làm đô thành của nước ta. Tất cả các văn võ trong triều đều vui mừng nói “Bệ hạ vì thiên hạ lập kế dài lâu, trên cho nghiệp đế được thịnh vượng lớn lao, dưới cho dân chúng được đông đúc giàu có, điều lợi như thế ai dám không theo”. Mùa thu tháng bảy lịch trăng năm đó (năm Canh Tuất), đoàn thuyền ngự của nhà vua từ Hoa Lư cập bến thành Đại La. Từ giờ phút đó, thành Đại La được đổi tên là Thăng Long và giữ vai trò kinh đô của đất nước. Chiếu dời đô đã nêu cao vị trí trung tâm cùng với những điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội rất thuận lợi của đất Thăng Long. - Về mặt địa lý, đất Thăng Long nằm giữa vùng Đồng Bằng đông dân, trù phú, lại ở vào vị trí của những đường giao thông quan trọng chủ yếu mà lúc bấy giờ chủ yếu là đường sông. Thuyền bè có thể xuôi ngược khắp đất Kinh kỳ và có dải sông Hồng tỏa đi khắp mọi miền của đất nước. Đó là nơi quy tụ và tỏa rộng của mạng lưới giao thông, là vị trí “chính giữa Nam - Bắc - Đông - Tây”, “chỗ tụ hội trọng yếu của bốn phương”. - Về mặt kinh tế - xã hội, từ một làng nhỏ ven sông Tô rồi qua thành Vạn Xuân của nhà tiền Lý, thành Tông Bình - Đại La thời Tùy - Đường, đến đầu thế kỷ XI, đất Thăng Long đã trở thành một vùng cư dân tập trung, kinh tế phát triển. Vùng đó cũng đã có thành lũy, đê điều có thể coi đây là cơ sở ban đầu và những đường nét cấu trúc thành thị sơ khai của Hà Nội thời tiền Thăng Long. Tất cả những điều kiện tự nhiên và kết quả phát triển lịch sử trên đây cùng với tầm nhìn bao quát và sự phát hiện thiên tài của Lý Công Uẩn, đã dẫn đến chủ trương định đô ở Thăng Long và từ đó, mở ra một thời kỳ mới trong lịch sử nghìn năm văn hiến và anh hùng của Hà Nội. Đó là thời kỳ Thăng Long với biểu tượng rồng bay vừa mang khí thế vươn lên mạnh mẽ của dân tộc, vừa chứa đựng ý niệm thiêng liêng về cội nguồn Rồng - Tiên và ước mơ về nguồn nước, mưa thuận gió hòa của cư dân văn minh nông nghiệp trồng lúa nước. Năm 1010 đã được ghi vào lịch sử Hà Nội như một mốc lớn với hai sự kiện trọng đại: Định đô ở vùng Hà Nội và đặt tên thành Thăng Long.Và từ đó, Thăng Long đã vươn lên như Rồng bay trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, xứng đáng là kinh đô của nước đại Việt, là trung tâm chính trị - kinh tế - văn hóa lớn nhất của cả đất nước.

doc11 trang | Chia sẻ: aloso | Ngày: 04/09/2013 | Lượt xem: 4829 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đô thị cổ Việt Nam - Thành Thăng Long, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI Trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn Khoa lịch sử -------***-------- Tiểu Luận Đô thị cổ Việt Nam - Thành Thăng Long LỜI NÓI ĐẦU Chẳng bao lâu nữa - Vào năm 2010 - Hà Nội sẽ long trọng kỷ niệm lần thứ 1000 ngày sinh của mình. Nhìn lại những chặng đường đấu tranh đầy gian nan, thử thách của dân tộc Việt Nam để tồn tại và phát triển, Thủ đô Hà Nội có quyền tự nào về những đóng góp xứng đáng của mình. Những đóng góp đã được ngày một bồi đắp thêm để trở thành truyền thống Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội rất đỗi hào hùng của các thế hệ con người Thủ đô thanh lịch. Truyền thống có bề dày lịch sử hàng nghìn năm đã luôn luôn là những động lực to lớn tiếp sức cho Hà Nội vượt qua mọi khó khăn vươn lên phía trước. Trên cơ sở những thành tựu to lớn đã đạt được những công cuộc đổi mới hiện nay. Hà Nội đang tiếp tục phấn đấu vượt qua thử thách và khắc phục những nhược điểm để chuyển mạnh sang thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xứng đáng với vị trí là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học, kỹ thuật của cả nước, xứng đáng với lòng yêu mến của đồng bào cả nước và bạn bè gần xa: “Hà Nội - trái tim của cả nước, thủ đô phẩm giá của con người”. Với trái tim và niềm vinh dự, tự hào về Thăng Long, Đông Đô - Hà Nội - Tôi rất vinh dự được học tập tại đây, trên mái trường Đại học Tổng hợp - để tìm hiểu thêm về Thăng Long - Sau đây là một bài tiểu luận nhỏ của bản thân về Đô thị cổ Thăng Long. I. Thăng Long - Đông Đô - Đông Kinh - Hà Nội Thế kỷ XI - XIX 1. Định đô Thăng Long Cuối 1009, tại Hoa Lư (Ninh Bình) Lý Công Uẩn được lập lên làm vua, sáng lập ra vương triều Lý (1009 - 1225). Hoa Lư là Kinh đô của nước Đại Cồ Việt dưới hai triều Đinh (968 - 979) và Tiền Lê (980 - 1009). Đó là một vùng núi non hiểm trở, thích hợp với yêu cầu quân sự của chính quyền độc lập non trẻ còn phải đối phó với nhiều mối đe dọa của thù trong giặc ngoài với địa thế lợi hại của Hoa Lư, triều Đinh đã đánh bại các thế lực cát cứ địa phương, khắc phục và củng cố nền thống nhất quốc gia, triều Tiền Lê đã đập tan nạn xâm lược lần thứ nhất của nhà Tống, bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc. Trong vòng 41 năm (968 - 1009). Kinh đô Hoa Lư xứng đáng với sự lựa chọn của Đinh Tiên Hoàng và Lê Đại Hành, đã làm tròn vai trò lịch sử của nó. Nhưng những thành quả bảo vệ và củng cố độc lập dân tộc gắn liền với thống nhất Quốc gia thời Ngô, Đinh, tiền Lê đã điều kiện đưa đất nước bước vào một thời kỳ mới: thời kỳ xõy dựng đất nước trên quy mô lớn, thời kỳ phục hưng toàn diện của dân tộc và nền văn hóa dân tộc. Nhiệm vụ lịch sử đó được đặt ra trước triều Lý từ khi mới thành lập, và trước yêu cầu mới của lịch sử, Hoa Lư với vị thế của nó, không đáp ứng được vai trò kinh đô của cả nước. Lý Công Uẩn tức Lý Thái tổ, vị vua sáng nghiệp của triều Lý đã nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của Kinh thành đối với vận mệnh của đất nước và Vương triều. Theo ông, việc định đô không thể “theo ý riêng”, không thể “tự tiện chuyển đổi”, mà phải mưu toan việc lớn, tính kế cho con cháu “muôn vạn đời”. Ông nhận thấy “Thành Hoa Lư ẩm thấp, chật hẹp, không đủ làm chỗ ở của Đế vương, muốn dời đi nơi khác”. Đầu năm 1010, Lý Công Uẩn tự tay viết chiếu dời đô, nói rõ lý do dời đô và quyết định chọn thành Đại La ( Hà Nội) làm đô thành của nước ta. Tất cả các văn võ trong triều đều vui mừng nói “Bệ hạ vì thiên hạ lập kế dài lâu, trên cho nghiệp đế được thịnh vượng lớn lao, dưới cho dân chúng được đông đúc giàu có, điều lợi như thế ai dám không theo”. Mùa thu tháng bảy lịch trăng năm đó (năm Canh Tuất), đoàn thuyền ngự của nhà vua từ Hoa Lư cập bến thành Đại La. Từ giờ phút đó, thành Đại La được đổi tên là Thăng Long và giữ vai trò kinh đô của đất nước. Chiếu dời đô đã nêu cao vị trí trung tâm cùng với những điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội rất thuận lợi của đất Thăng Long. - Về mặt địa lý, đất Thăng Long nằm giữa vùng Đồng Bằng đông dân, trù phú, lại ở vào vị trí của những đường giao thông quan trọng chủ yếu mà lúc bấy giờ chủ yếu là đường sông. Thuyền bè có thể xuôi ngược khắp đất Kinh kỳ và có dải sông Hồng tỏa đi khắp mọi miền của đất nước. Đó là nơi quy tụ và tỏa rộng của mạng lưới giao thông, là vị trí “chính giữa Nam - Bắc - Đông - Tây”, “chỗ tụ hội trọng yếu của bốn phương”. - Về mặt kinh tế - xã hội, từ một làng nhỏ ven sông Tô rồi qua thành Vạn Xuân của nhà tiền Lý, thành Tông Bình - Đại La thời Tùy - Đường, đến đầu thế kỷ XI, đất Thăng Long đã trở thành một vùng cư dân tập trung, kinh tế phát triển. Vùng đó cũng đã có thành lũy, đê điều… có thể coi đây là cơ sở ban đầu và những đường nét cấu trúc thành thị sơ khai của Hà Nội thời tiền Thăng Long. Tất cả những điều kiện tự nhiên và kết quả phát triển lịch sử trên đây cùng với tầm nhìn bao quát và sự phát hiện thiên tài của Lý Công Uẩn, đã dẫn đến chủ trương định đô ở Thăng Long và từ đó, mở ra một thời kỳ mới trong lịch sử nghìn năm văn hiến và anh hùng của Hà Nội. Đó là thời kỳ Thăng Long với biểu tượng rồng bay vừa mang khí thế vươn lên mạnh mẽ của dân tộc, vừa chứa đựng ý niệm thiêng liêng về cội nguồn Rồng - Tiên và ước mơ về nguồn nước, mưa thuận gió hòa của cư dân văn minh nông nghiệp trồng lúa nước. Năm 1010 đã được ghi vào lịch sử Hà Nội như một mốc lớn với hai sự kiện trọng đại: Định đô ở vùng Hà Nội và đặt tên thành Thăng Long.Và từ đó, Thăng Long đã vươn lên như Rồng bay trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, xứng đáng là kinh đô của nước đại Việt, là trung tâm chính trị - kinh tế - văn hóa lớn nhất của cả đất nước. 2. Thăng Long trong công cuộc xây dựng đất nước và phục hưng văn hóa thời Lý (1010 - 1226) Sau khi dời đô về Thăng Long, công việc đầu tiên của triều Lý là kiến thiết cung điện làm nơi ở, nơi làm việc của vua quan, quý tộc và xây dựng thành lũy bảo vệ. Mùa thu 1010, một cụm kiến trúc trung tâm gồm tám điện, ba cung đã được dựng lên: Phía trước dựng điện Càn Nguyên, làm chỗ coi chầu, bên tả làm điện Tập Hiền, bên hữu dựng điện Giảng võ, lại mở cửa phi Long trông với cung Nghênh Xuân, cửa Đan Phượng thông với cung Uy Viễn, hướng chính nam dựng điện Cao Minh, đều có thềm Rồng, trong thềm Rông có hành lang dẫn ra xung quanh bốn phía, sau điện Càn Nguyên dựng lại điện Long An, Long Thụy làm nơi vua nghỉ, bên tả xây điện Nhật Quang, bên hữu cây điện Nguyệt Minh, phía sau dựng lại hai cung Thúy Hoa, Long Thụy làm chỗ ở cho cung nữ. Khu vực lâu đài cung điện đó còn nhiều lần được sửa chữa, xây dựng thêm, lớn nhất là năm 1029 và 1203. Trong lần tu bổ năm 1029, điện Càn Nguyên đổi tên là điện Thiên An là một loạt kiến trúc mới được xây dựng, trong đó có lầu Chính Dương trung coi giờ khắc và hai lầu chuông ở hai bên thềm Rồng để “dân chúng ai có việc kiện tụng oan uổng thì đánh chuông lên”. Khu cung điện của vua trong triều đình gọi là Đại Nội. Bao quanh khu vực này có một vùng thành bảo vệ nghiêm ngặt gọi là Cấm Thành. Phía ngoài có vòng thành thứ hai gọi là Hoàng Thành hay là thành Thăng Long. Thành đắp bằng đất, phía ngoài dào hào, mở bốn cửa: Tường phù phía Đông, Quang Phúc phía Tây, Đại Hưng phía Nam và Diệu đức phía Bắc. Mười điện tiền cấm quân làm nhiệm vụ thường xuyên canh phòng và bảo vệ bảo vệ bên trong cấm thành. Đây là khu vực Thành - chính trị hay là thị quân vương giữ vai trò đầu não của nhà nước trung ương tập quyền, trung tâm chính trị của nhà nước. Phía ngoài là khu thị - dân cư hay thành thị dân sự bao gồm những xóm làng nông nghiệp, những phố phường công thương và một hệ thống bến - chợ của Kinh thành. Một công trình thứ ba bao gồm toàn bộ khu vực thành và thị gọi là thành Đại La hay La Thành, hay “Thăng Long ngoại thành”. Vòng thành này đắp bằng đất với chức năng vừa là thành lũy, phòng vệ, vừa là ngăn ngừa lũ lụt. Nhà Lý đã nhiều lần sửa chữa, tu bổ thành Đại La trên cơ sở tận dụng thành Đại La cũ và địa thế tự nhiên của đất Thăng Long. Các nghề thủ công nằm rải rác ở nhiều phố phường, nhưng tập trung nhất vẫn là khu Đông và khu Tây của thành Thăng Long. Đó là các nghề dệt, nhuộm, gốm, sứ, giấy, nghề làm đồ trang sức, mỹ nghệ, nghề đúc đồng, rèn sắt, mộc… khảo cổ học đã tìm thấy nhiều đồ sứ tráng men, nhiều đồ đất nung hình rồng, phượng, cầm thú… Bên cạnh những nghề thủ công dân gian là những xưởng thủ công của nhà nước như xưởng đúc tiền, đóng thuyền, làm vũ khí, xe kiệu của vua quan… Phía Đông kinh thành, bên bờ sông Hồng, dựng điện Hàm Quang để vua ngự ra xem đua thuyền, múa rối nước. Phía Bắc có cung Dâm Đàm bên Hồ Tây là nơi Vua ngự ra xem đánh cá và nghỉ ngơi… Ngoài ra phải kể đến một trung tâm văn hóa quan trọng của Thăng Long được bắt đầu xây dựng từ đời Lý là khu Văn Miếu Quốc Tử Giám. Năm 1070, nhà Lý lập Văn Miếu và cho Hoàng Thái Tử đến đó học tập. Từ lớp học Hoàng Gia dần dần phát triển thành trường Quốc Tử Giám, trung tâm Giáo dục Đào tạo tri thức của nước Đại Việt. Khu văn hóa ấy đặt ở phía Nam Hoàng Thành, giữa một địa hình rộng rãi, có nhiều ao hồ và vườn cây yên tĩnh. Năm 1075, nhà Lý mở khoa thi Nho học đầu tiên… Thăng Long đời Lý vẫn thấm đượm tinh thần thượng võ. Nhà Lý lập điện Giảng võ trong Hoàng Thành làm nơi họp bàn của các võ quan. Năm 1170 Xạ Đình (sân bắn) được thành lập ở phía nam Thành Đại La, ở đó, nhà Vua đến tập bắn cung, cưỡi ngựa, và các võ quan thường xuyên luyện tập phép tiến công, phá trận… Như vậy là chỉ trong vòng một vài Thế kỷ, sau khi định đô, Thăng Long đã được xây dựng về mọi mặt và trở thành trung tâm Chính trị - Kinh tế - Văn hóa lớn nhất và tiêu biểu cho cả nước. Thành quách, đê điều các loại buôn trúc cung đình, dân gian, tôn giáo, văn hóa… tất cả hòa quyện với thiên nhiên tạo nên giáng vẻ riêng của Kinh thành Rồng bay. Thăng Long đời Lý vừa ngoạn mục vừa giản dị, rất gần gũi với thiên nhiên và tính cách Người Việt, đượm tính dân gian và tính dân tộc. Thăng Long với tinh thần bất khuất chống giặc ngoại xâm với các anh hùng Lý Thường Kiệt chống giặc Tống, bằng cuộc tiến công tiêu diệt các căn cứ xâm lược của quân Tống trên đất Tống và bằng phòng tuyến sông Cầu vững chãi, quân dân Đại Việt không những đánh bại quân xâm lược, mà còn bảo vệ an toàn cho Kinh thành và vùng Đồng Bằng đông dân giàu của. Chính trong cuộc chiến đấu ác liệt trên phòng tuyến sông Cầu, đã vang lên bài thơ bất hủ của Lý Thường Kiệt: “Sông núi nước Nam vua Nam ở Rành rành định phận ở sách trời Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời.” Lý Thường Kiệt là một con người ưu tú của Thăng Long mà công lao sự nghiệp đã làm rạng rỡ đất Rồng bay và mãi mãi tỏa sáng trong lịch sử, ngoài ra còn có Ỷ Lan một người phụ nữ thông minh rất thương dân và giỏi việc nước… Thăng Long thời Trần (1226 - 1400) - Ba lần đánh thắng Mông - Nguyên. Triều Lý đã suy sụp cực độ và đầu năm 1226 phải nhường chỗ cho triều Trần (1226 - 1400). Triều Trần thành lập đã chấm dứt được tình trạng loạn ly cuối đời Lý, khắc phục quyền lực của chính quyền trung ương, thiết lập chính trị - xã hội trong cả nước. Trên cơ sở kế thừa những kết quả xây dựng của triều Lý, triều Trần, bằng nhiều chính sách và biện pháp tích cực, đã thúc đẩy sự phát triển của đất nước về mọi mặt. Nền văn minh Đại Việt tiếp tục phồn thịnh. Thăng Long vẫn giữ vị trí Kinh đô của nước Đại Việt dưới triều Trần, về quy mô và cấu trúc, Thăng Long đời Trần hầu như không khác Thăng Long đời Lý. Trong 175 năm đóng đô ở đây, nhà Trần tận dụng tất cả những cơ sở đã được xây dựng từ trước, tu bổ, mở mang thêm, và kiến tạo một số công trình mới cần thiết. Năm 1230, nhà Trần tu sửa thành Đại La, có mở rộng thêm ít nhiều. Thành có bốn cửa: cửa Tây Dương (Cầu Giấy), cửa Chợ Dừa, cửa Cầu Dền, cửa Vạn Xuân. Trên thực tế, đoạn thành phía Đông cũng là đê sông Hồng, còn có hai cửa mở thông ra hai bến của Kinh thành: Giang Khẩu (cửa sông Tô) và Đông Bộ Đầu (triều Đông đời Lý)… Trong kháng chiến lần thứ nhất, quân giặc chiếm đóng Thăng Long 11 ngày và bị đánh bật ra khỏi kinh thành bằng trận Đông Bộ Đầu. Trong cuộc kháng chiến lần thứ hai Thăng Long bị chiếm đóng hơn ba tháng. Những trận phản công Hàm Tử, Chương Dương, Tây Kết ở phái Nam Thăng Long cùng với trận đánh thọc sâu do Trung Thành Vương chỉ huy buộc quân địch phải bỏ thành tháo chạy… Trong kháng chiến lần thứ ba: Sau 32 ngày chiếm đóng Thăng Long chủ soái của giặc là Thoát Hoan đã từng ngấm đòn thất bại trước đây, vội rút quân về Vạn Kiếp, nhưng trên đường rút chạy bị hai cánh quân thủy bộ của ta, nổi bật lên: Đại thắng Bạch Đằng lịch sử… Từ Thăng Long đến Đông Đô, Đông Quan, Hai mươi năm kiên cường chống xâm lược Minh của nhà Lê - vị anh hùng dân tộc Lê Lợi, với nhiều chiến thắng vang dội: Tốt Đông - Chúc Đông, Chi Lăng - Xương Giang và chiến thắng hoàn toàn. 3. Đông kinh thời hậu Lê (1428 - 1527) Với thắng lợi của khởi nghĩa Nam Sơn, triều Lê được chính thức thành lập, thường gọi là triều Hậu Lê (1428 - 1527). Tháng 4-1428, Lê Lợi từ dinh Bồ Đề chuyển vào thành Đông Đô. Ngày 29 tháng đó, Lê Lợi lên ngôi Hoàng Đế, khắc phục quốc hiệu Đại Việt, vẫn định đô ở Thăng Long - Đông Đô. Năm 1430, nhà Lê đổi Đông Đô làm Đông Kinh. Về cấu trúc thành lũy, thành Đông Kinh vẫn dựa trên cơ sở thành Thăng Long - Đông Đô thời Lý, Trần. Năm 1474 và 1500 nhà Lê cho sửa chữa và xây dựng lại tường thành phía Tây và phía Đông của Hoàng Thành. Năm 1516 Hoàng thành được mở rộng thêm về phía Đông. Nhà Lê xây dựng và bố trí lại nhiều cung điện, lầu gác trong cung Thành. Nhà Lê đưa Nho giáo lên vị trí chính thống và hết sức đề cao chế độ khoa cử, lấy đó làm phương thức chủ yếu để đào tạo đội ngũ quan lại. Từ khoa thi hội đầu tiên năm 1442 đến kho thi hội cuối cùng năm 1526, triều Lê đã mở 26 kỳ thi, đào tạo được 984 tiến sĩ. Hiện nay, Văn Miếu còn giữ được 13 bia tiến sĩ dựng từ đời Lê. 4. Đông Kinh - kẻ chợ thời Mạc (1527 - 1592) và Lê - Trịnh (1533 - 1786) Năm 1527, triều Mạc (1527 - 1592) thay thế triều Lê. Chính sách cai trị của triều Mạc nói chung có nới rộng hơn so với triều Lê trong thời gian đầu, có tạo ra được tình trạng xã hội ổn định, nhưng về cơ bản nhà Mạc không đề ra được những cải cách mới. Năm 1592 sau khi đánh bại nhà Mạc chiếm được Thăng Long, quân Trịnh đã phá hủy hoàn toàn hệ thống thành lũy phòng vệ của nhà Mạc. Từ đó trong một thời gian dài, kinh thành Thăng Long không có vòng Thành ngoài. Trong ba thế kỷ, từ đầu thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ XVIII Thăng Long có sút kém và sa đọa về mặt chính trị, nhưng vẫn phát triển về mặt kinh tế - xã hội và vẫn là một trung tâm Văn hóa lớn của cả nước. 5. Thăng Long thời Tây Sơn (1786- 1802) Xuân Lửa Đống Đa Thế kỷ XVIII là thế kỷ nông dân khởi nghĩa. Làn sóng khởi nghĩa dâng cao khắp Đàng Ngoài, rồi lan vào Đàng Trong, và đưa đến đỉnh cao của chiến tranh nông dân thế kỷ XVIII với phong trào Tây Sơn khởi nghĩa đầu từ 1781… Với chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa kết thúc thắng lợi cuộc đại phá quân Thanh và ghi thêm vào lịch sử anh hùng của Thăng Long - Hà Nội tên một mùa Xuân chói lọi: Xuân Lửa - Đống Đa… Cho đến nay, trên đất Hà Nội còn lưu lại một số dấu vết của Xuân lửa Đống Đa năm Kỷ Dậu đó là những tên đất, cánh đồng Đồn, nền Đồn, cây Đa Đồn… Quang Trung tu bổ tôn tạo lại di tích văn hóa, biểu thị thái độ coi trọng và quan tâm bảo vệ các di sản văn hóa dân tộc: Chùa Kim Liên, chùa Tây Phương… Lịch sử Tây Sơn ngắn ngủi, nhưng để lại những dấu ấn đậm đà, bất diệt trên những trang sử và trong lòng người Thăng Long - Hà Nội. II. Thăng Long - Hà Nội thời Nguyễn Năm 1802 Nguyễn Ánh đánh bại chính quyền Quang Toảng, lập chế độ quân chủ chuyên chế của triều Nguyễn trên phạm vi cả nước. Nhà Nguyễn đóng đô ở Phú Xuân, và Thăng Long vẫn là thủ phủ của Bắc Thành gồm 11 trấn. Như vậy là dưới triều Nguyễn, Thăng Long - Hà Nội không những mất đi vị trí Kinh đô của cả nước, mà còn bị hạ thấp từ trấn thành xuống tỉnh thành và quy mô cũng bị thu hẹp lại. Phần Thành - chính trị của Thăng Long - Hà Nội bị giảm sút rõ rệt. Tuy vậy, phần thị - kinh tế dĩ nhiên có bị ảnh hưởng, nhưng vẫn có mặt phát triển độc lập của nó và nhờ đó, giữ được bộ mặt thành thị của Thăng Long Hà Nội. Mặc dù cho đến nay Thăng Long - Hà Nội không còn là nơi Vua Chúa ở nữa, nhưng vẫn là thành phố đứng đầu về nghệ thuật, công nghiệp, thương nghiệp, về sự giàu có, số dân đông đúc… Dưới triều Nguyễn, Thăng Long - Hà Nội mất vai trò thủ đô của đất nước, nhưng vẫn là một trung tâm kinh tế - văn hóa lớn nhất và tiêu biểu của dân tộc với sức sông mạnh mẽ và năng lực sáng tạo phong phú của nó. Và cho tới ngày nay với truyền thống lịch sử quật cường của Thủ đô Hà Nội, sự phát triển kinh tế nhanh chóng đã tạo cho con người có một vị thế mới trong nước, và trên trường quốc tế, nó là dấu ấn mạnh mẽ nhất, là món quà ý nghĩa nhất để chuẩn bị kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội. Thăng Long - Hà Nội xứng đáng là thủ đô anh hùng trong khánh chiến, cũng như trong thời kỳ đổi mới! MỤC LỤC

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docĐô thị cổ Việt Nam - Thành Thăng Long.doc