Di truyền liên kết giới tính ở gà

*Lai giữa gà mái mang alen trội của gen SL quy định màu trắng bạc của lông với gà trống mà giao tử của nó mang alen lặn tương ứng s-, quy định màu vàng sáng của lông. Gà con nhận được có màu lông trắng bạc sẽ là gà trống, còn gà con có màu lông vàng sáng sẽ là gà mái. Trong thực tế, gà trống được dùng là Rốt đỏ (Red Rhode), gà mái là Rốt trắng. Các dạng gà lai cao sản nổi tiếng thế giới như Uorel SSL, Decalb, Drilink, Benkoc B-380, Hisex brown . là những sản phẩm theo hướng này. *Lai giữa gà mái mang alen trội của gen B quy định màu của các vằn trên lông và alen trội của gen E quy định màu đen của lông với gà trống mang các alen lặn tương ứng của nó b, e. Gà con nhận được có lông đen toàn thân là gà mái, gà con lông đen, trên đầu có đốm trắng là gà trống. Trên thực tế ta dùng gà trống là giống Rốt đỏ hay Niuhamsai (Newhampshire) với gà mái giống Plimut vằn. Các giống gà mới đưa vào nước ta gần đây như: Moravia, Goldline . được tạo ra theo hướng này cho phép phân biệt được trống mái ngay khi mới nở nên đang được nhiều người ưa chuộng. *Thông qua tốc độ mọc lông. Từ lâu ta đã biết rằng các giống gà thuộc hướng đẻ trứng mọc lông nhanh hơn các giống gà thuộc hướng kiêm dụng và hướng thịt. Ví dụ gà con giống Leghorn mọc lông đầy đủ ở lứa tuổi còn non và khác với gà con từ các giống Sussex, Rhode, các giống nặng cân khác. Tính trạng mọc lông nhanh hay chậm gắn liền với giới tính. Khi lai gà mái mang alen trội của gen K, quy định mọc lông chậm với gà trống mang alen lặn của gen k, quy định mọc lông nhanh. Gà con nhận được nếu mọc lông chậm là gà trống, mọc lông nhanh là gà mái. Gà mái ngay sau khi nở ra đã có đủ các lông cánh chính. Người đầu tiên lai tạo gà lai dựa trên tốc độ mọc lông liên kết với giới tính là Serebrov (1922), khi ông dùng gà mái giống Orlop Nga với gà giống Plimut vằn.

pdf28 trang | Chia sẻ: tlsuongmuoi | Ngày: 11/07/2013 | Lượt xem: 3654 | Lượt tải: 12download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Di truyền liên kết giới tính ở gà, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
57 Sơ đồ về trường hợp 1: Sơ đồ về trường hợp 2: Hình 3.4: Di truyền liên kết giới tính ở gà Để nhận được gà lai theo dạng này có thể sử dụng các khả năng sau đây: 58 *Lai giữa gà mái mang alen trội của gen SL quy định màu trắng bạc của lông với gà trống mà giao tử của nó mang alen lặn tương ứng s-, quy định màu vàng sáng của lông. Gà con nhận được có màu lông trắng bạc sẽ là gà trống, còn gà con có màu lông vàng sáng sẽ là gà mái. Trong thực tế, gà trống được dùng là Rốt đỏ (Red Rhode), gà mái là Rốt trắng. Các dạng gà lai cao sản nổi tiếng thế giới như Uorel SSL, Decalb, Drilink, Benkoc B-380, Hisex brown... là những sản phẩm theo hướng này. *Lai giữa gà mái mang alen trội của gen B quy định màu của các vằn trên lông và alen trội của gen E quy định màu đen của lông với gà trống mang các alen lặn tương ứng của nó b, e. Gà con nhận được có lông đen toàn thân là gà mái, gà con lông đen, trên đầu có đốm trắng là gà trống. Trên thực tế ta dùng gà trống là giống Rốt đỏ hay Niuhamsai (Newhampshire) với gà mái giống Plimut vằn. Các giống gà mới đưa vào nước ta gần đây như: Moravia, Goldline... được tạo ra theo hướng này cho phép phân biệt được trống mái ngay khi mới nở nên đang được nhiều người ưa chuộng. *Thông qua tốc độ mọc lông. Từ lâu ta đã biết rằng các giống gà thuộc hướng đẻ trứng mọc lông nhanh hơn các giống gà thuộc hướng kiêm dụng và hướng thịt. Ví dụ gà con giống Leghorn mọc lông đầy đủ ở lứa tuổi còn non và khác với gà con từ các giống Sussex, Rhode, các giống nặng cân khác. Tính trạng mọc lông nhanh hay chậm gắn liền với giới tính. Khi lai gà mái mang alen trội của gen K, quy định mọc lông chậm với gà trống mang alen lặn của gen k, quy định mọc lông nhanh. Gà con nhận được nếu mọc lông chậm là gà trống, mọc lông nhanh là gà mái. Gà mái ngay sau khi nở ra đã có đủ các lông cánh chính. Người đầu tiên lai tạo gà lai dựa trên tốc độ mọc lông liên kết với giới tính là Serebrov (1922), khi ông dùng gà mái giống Orlop Nga với gà giống Plimut vằn. 59 3.1.4. Sự di truyền các tính trạng số lƣợng Các tính trạng số lượng ở gia cầm gắn liền với sức sản xuất, sinh trưởng phát dục, khả năng sinh sản... Trong suốt một thời gian dài các nhà di truyền cho rằng sự di truyền các tính trạng số lượng không tuân theo quy luật Menđen và sự di truyền các tính trạng số lượng từ bố mẹ cho các thế hệ sau không thông qua nhiễm sắc thể mà chỉ thông qua tế bào chất (Citoplasma). Năm 1909 nhà di truyền học Thuỵ Điển chứng minh rằng về thực chất sự di truyền các tính trạng số lượng không vượt ra ngoài quy luật Menđen. Ngày nay sự di truyền các tính trạng số lượng được hiểu như là một polygen. Một tính trạng số lượng (TTSL) được quy định bởi không chỉ một gen mà từ sự cộng gộp của nhiều gen, đôi khi từ 100-200 đôi gen. Cho đến nay số lượng chính xác các gen quy định TTSL vẫn chưa được xác định. Trong chăn nuôi gia cầm, tất cả các TTSL đều có ý nghĩa kinh tế lớn như sản lượng trứng, trọng lượng trứng, thể trọng... vì vậy rất được quan tâm chú ý khi chọn lọc. Các quy luật di truyền TTSL là đối tượng nghiên cứu của di truyền học quần thể (DTQT). DTQT quan tâm đến sự tác động đồng thời của nhiều cá thể theo các chỉ tiêu trung bình. Nói cách khác là các cá thể riêng biệt trong một quần thể nhận được các đặc trưng tương ứng thông qua sự so sánh nó với giá trị trung bình của quần thể về các tính trạng xác định. Để hoàn thiện các giống gia cầm, điều quan trọng hơn cả là nhận biết các đại lượng di truyền cơ bản của các tính trạng kinh tế, cũng như mức độ di truyền (DT), sự tương quan giữa chúng và sự lặp lại của các tính trạng... Hệ số di truyền h2 (HSDT) thường được sử dụng nhiều trong công tác giống. Thông qua HSDT sẽ hạn chế được ảnh hưởng của môi trường ngoài và tìm thấy được giá trị di truyền thuần tuý của tính trạng nghiên cứu. Theo Lasley, HSDT là một bộ phận của sự biến dị kiểu hình nói chung, nó phụ thuộc vào sự khác nhau của gen 60 và các cá thể khác nhau trong quần thể. Từ giá trị của HSDT rút ra được những kết luận về sự đa dạng DT trong khuôn khổ một nhóm hay một đàn gia súc, gia cầm. HSDT là khác nhau không chỉ trong các quần thể mà ngay cả trong một quần thể trong quá trình hoàn thiện nó. Do đó sẽ mắc sai lầm nếu như ứng dụng một cách máy móc các giá trị của HSDT từ đàn này cho đàn khác và cần phải tính HSDT trong điều kiện cụ thể của tiến trình công tác giống. Theo Boyer (1964), HSDT của các tính trạng riêng biệt là một đại lượng tương đối ổn định, nó phụ thuộc vào các tính trạng số lượng khác nhau. Ở gia cầm, HSDT các tính trạng được chia ra theo nhóm sau: -Các tính trạng (TT) có giá trị của HSDT cao ( h2 =0,6) gồm có khối lượng trứng và màu sắc vỏ trứng. -Các TT có HSDT trung bình (h 2 =0,35) gồm có khối lượng cơ thể, vòng ngực, dài lườn… tức là các TT liên quan đến sản xuất thịt nói chung. -Các TT có HSDT thấp (h2 =0,25) gồm có tuổi đẻ trứng, sản lượng trứng, cường độ đẻ… tức là các TT liên quan đến sức sản xuất trứng. -Các TT có HSDT rất thấp (h2 =0,1) gồm tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ ấp nở, sức sống…HSDT nói lên rằng sự di truyền có ảnh hưởng rất hạn chế đến các TT này. Các nghiên cứu đã xác định HSDT của các đối tượng gia cầm chủ yếu thể hiện trong các bảng 3.2, 3.3, 3.4, 3.5. Bảng 3.2 : Giá trị HSDT của dòng gà 6E, giống Leghorn (Theo Vanchep, Donchep và cộng sự, 1990) Tính trạng Theo Vanchep và cs. Theo các tác giả khác Khối lượng cơ thể lúc - Mới nở 0,63 61 56 Ngày 0,31 - 154 Ngày 0,40 - 365 Ngày 0,55 0,63 Tuổi đẻ trứng đầu (ngày) 0,44 - Sản lượng trứng 0,22 0,26 Trọng lượng trứng 0,53 0,50 Bảng 3.3 :Giá trị HSDT ở ngỗng Tính trạng Tính trạng Thể trọng lúc 1,5-2,5 tháng tuổi 0,38 Sản lượng trứng 0,16 Khối lượng gan 0,45 Khối lượng trứng 0,38 Tỷ lệ thụ tinh 0,09 Tỷ lệ ấp nở 0,04 Bảng 3.4: Giá trị HSDT ở gà tây, vịt Tính trạng Tính trạng Gà Tây Vịt Thể trọng lúc 2 tháng 0,38 Thể trọng lúc 1 ngày 0,65 Thể trọng lúc 6 tháng 0,39 Thể trọng lúc 2 tháng 0,42 Dài xương ngực 0,28 Thể trọng lúc 18 tháng 0,33 Rộng ngực 0,32 Thể trọng khi giết thịt 0,71 Sản lượng trứng 0,28 Sản lượng trứng 0.36 Khối lượng trứng 0,31 Khối lượng trứng 0,50 Tỷ lệ thụ tinh 0,17 Tỷ lệ nở 0,14 Trên cơ sở hệ số di truyền của từng tính trạng cho phép đưa ra phương pháp công tác giống thích hợp, làm tăng nhanh tiến bộ di truyền và hiệu quả chọn lọc giống. 62 Bảng 3.5: Giá trị HSDT và công tác giống Tính trạng HSDT (h2) Phƣơng pháp giống Sản lượng trứng 0,30 (0,15-0,45) Theo dòng họ Tuổi thành thục SD 0,25 (0,15-0,40) Theo dòng họ Cường độ đẻ trứng 0,20 - Theo dòng họ Tỷ lệ nở 0,15 - Theo dòng họ Khối lượng trứng 0,60 (0,45-0,80) Theo cá thể Màu vỏ trứng 0,60 (0,55-0,75) Theo cá thể Hình dạng trứng 0,15 (0,1-0,2) Theo dòng họ Độ dày vỏ trứng 0,30 - Theo dòng họ Màu lòng đỏ 0,15 - Theo dòng họ Sức sống 0,10 (0,05-0,1) Theo dòng họ Khối lượng cơ thể 0,40 (0,4-0,5) Theo cá thể Đến 12 tuần tuổi Đến 6 tháng tuổi 0,45 (0,40-0,50) Theo cá thể Khối lượng sống cuối kỳ 0,60 (0,55-0,65) Theo cá thể 3. 3. Công tác giống gia cầm Tuỳ thuộc vào phương thức biểu hiện giá trị giống và số lượng các tính trạng cần củng cố và nâng cao ở những giống cụ thể mà sử dụng phương pháp công tác giống thích hợp. 3.3.1. Chọn lọc giống gia cầm 3.3.1.1. Chọn lọc giống theo cá thể Theo phương pháp này việc chọn lọc được thông qua kiểu hình của các cá thể trong trong toàn đàn theo các giá trị của giống. Phương pháp này thu được hiệu quả cao khi sự di truyền trội hoặc lặn được qui định bởi các cặp gen. Ví dụ ở gà Plymouth trắng lặn qui định bởi alen-c, mào đơn bởi alen-r, các cá thể mang các tính trạng 63 này là đồng hợp theo màu lồng và hình dạng mào nên chọn lọc la rất đơn giản. Phương pháp chọn theo cá thể là rất hiệu quả với các tính trạng có HSDT cao. 3.3.1.2.Chọn lọc theo gia đình, dòng họ Phương pháp chọn lọc này được thực hiện thông qua giá trị giống trung bình của gia đình, dòng họ. Giá trị giống trung bình được tính cho cả các cá thể trong gia đình được chọn lọc. Phương pháp này có hiệu quả cao khi các tính trạng chọn lọc có HSDT thấp. 3.3.1.3.Chọn lọc hỗn hợp (cá thể, dòng họ, gia đình) Trong phương pháp này cho phép chọn các cá thể tốt nhất trong các gia đình tốt nhất, là phương pháp có nhiều triển vọng và được ứng dụng rộng rãi trong chăn nuôi gia cầm. Phụ thuộc vào chương trình công tác giống khác nhau, việc chọn lọc được thực hiện trên 1 tính trạng hay nhiều tính trạng mà sử dụng các hình thức chọn lọc sau: -Chọn lọc liên tục theo một tính trạng: Được sử dụng chỉ trong các trường hợp đặc biệt. Chọn lọc chỉ theo giá trị giống của một tính trạng và kéo dài liên tục qua nhiều thế hệ cho đến khi đạt mục đích giống đặt ra thì dừng lại. Sau đó chuyển sang chọn lọc theo tính trạng khác. Phương pháp này được tiến bộ di truyền tương đối nhanh nhưng chỉ ở một tính trạng. Ở gia cầm các tính trạng luôn có liên quan với nhau nên việc chọn lọc theo phương pháp này gặp trở ngại, vì vậy thường chỉ ứng dụng trong công tác giống với các dòng chuyên dụng. -Chọn lọc độc lập: Theo phương pháp này việc chọn lọc đồng thời ở một số tính trạng cho đến khi các tính trạng đó đạt giới hạn của giá trị giống xác định. Tức là đánh giá các cá thể thoả mãn đòi hỏi thấp nhất được xác định cho mỗi tính trạng, nếu không thoả mãn một tính trạng thì phải loại thải. Chỉ chọn các cá thể theo tất cả các tính trạng trên giới hạn qui định. Ví dụ đưa ra giá trị giống về sức đẻ trứng 220, trọng lượng trứng 55g thì tất cả các cá thể có SLT từ 220 64 và TLT từ 55g trở lên mới được chọn. Nhược điểm của phương pháp này là phải loại thải đi các cá thể có giá trị cao chỉ ở một TT mong muốn, các gia cầm có đặc tính quí ở một hướng sản xuất nào đó. Đòi hỏi phải có số lượng lớn để chọn lọc. Phương pháp này ứng dụng nhiều trong CNGC. -Chọn lọc theo chỉ số giống: Chỉ số giống được qui định cho tất cả cá thể và cho tất cả tính trạng giống. Chỉ số giống chung nhất được thể hiện với mô hình toán học tổng quát là: I = V1P1+V2P2+….....+VnPn Trong đó P1,P2..Pn là giá trị chuyển đổi của các tính trạng giống; V1,V2..Vn là hệ số xác định của giá trị giống; n là số lượng tính trạng giống. Chỉ số giống sau đây hay dùng trong chăn nuôi gia cầm: I = 0,236 (P1- P1) + 0,132 (P2 – P2) + 14,56 (P3 – P3) Trong đó P1,P2,P3 là sản lượng trứng (quả); khối lượng trung bình của trứng (g) và khối lượng của gia cầm sau năm đẻ trứng đầu tiên (kg); P1, P2, P3 là giá trị trung bình của các tính trạng tương ứng trong quần thể. 3.3.2 Sử dụng ƣu thế lai trong chăn nuôi gia cầm Sản lượng cao của các giống gà hướng trứng, tăng trọng nhanh, tầm vóc lớn của các giống gà hướng thịt, khả năng sử dụng thức ăn tốt của các dòng gà gần đây đã trở thành nổi tiếng trên thế giới không thể tách rời khỏi sự lai tạo và sử dụng ưu thế lai. Sự tăng về sức sống, độ lớn, sức sinh sản, tốc độ phát triển, khả năng chống đỡ với bệnh tật và những thay đổi của khí hậu thời tiết biểu hiện ở cơ thể lai so với cơ thể bố mẹ, kết quả của sự kết hợp giữa các giao tử của bố, mẹ ở cơ thể con lai được gọi là ưu thế lai. Trong chăn nuôi gia cầm đẻ nhận được ưu thế lai cao người ta thường sử dụng các phương pháp lai đó là: Lai giữa các giống, lai giữa các dòng và lai hỗn hợp từ 2,3,4 dòng hợp lại. Các dạng gà lai điển hình về năng suất cao theo hướng trứng vỏ trắng, trứng vỏ màu 65 và gà lai theo hướng sản xuất thịt Broiler được giới thiệu trên các bảng 3.6, 3.7. 3.3.2.1. Những lợi ích nhận được từ lai tạo Thứ nhất, con lai có thể tổ hợp được các đặc tính tốt từ 2 giống khác nhau. Những khuyết tật tồn tại ở một giống sẽ không có ở thế hệ sau nhờ vào sự bổ sung, đóng góp của các giống khác. Ví dụ: một gà mái Leghorn trắng (LW) lai gà rốt đỏ (RIR) cho ra gà đời con có sức đẻ trứng cao hơn gà RIR, trứng lớn hơn, thể trọng gà sau thời gian đẻ trứng lớn hơn so với gà LW, trứng của gà lai sẫm màu hơn… Thứ hai, lai tạo hướng tới sự đồng nhất hơn về đặc trưng bên ngoài thông qua chọn lọc, cho phép chọn, loại những con yếu, không kinh tế và không cho sản phẩm. Thứ ba, hai nhóm giống từ hai giống khác nhau có thể lai tạo, sử dụng gen liên kết giới tính để chọn gà trống mái lúc mới nở ra khỏi trứng. Thứ tư, con lai thường biểu hiện ưu thế lai, các thành tích về thế hệ con cháu cao hơn so với thành tích trung bình của bố mẹ chúng. Ví dụ (theo Hutt và Cale) sự thay đổi sức sản xuất qua lai tạo: sản lượng trứng đến 500 ngày tuổi là +22 quả; trọng lượng trứng +2g; thể trọng +130g; tuổi đẻ trứng đầu tiên -5 ngày. Bảng 3. 6: Gà lai đẻ trứng vỏ trắng Gà lai Hãng sản xuất Sản lƣợng trứng Trọng lƣợng trứng (g) Thức ăn/trứng Bebkok B- 300 Bebkok Mỹ 255-288 59,5-60,0 133-160 Khixec trắng Euribrit Hà lan 253-287 60,3-61,9 150-162 66 Roc trắng Róc Anh 270 61,5 150 Sayvur-228 Roc Canada 243-286 58,4-61,5 146-178 Belarus-9 Nga 227-277 59,4-60,0 133-188 Za ria-17 Nga 243-257 59,0-61,0 165-171 Hybrit-212 Đức 238-277 6,5-62,6 144-171 Tetran Babona Hung 243-286 58,4-61,5 146-178 Giữa 2 nhóm gà đẻ trứng vỏ trắng và vỏ màu có đặc điểm là: Sản lượng trứng tương đương nhau (230-290/235-296); trọng lượng trứng vỏ màu cao hơn vỏ trắng; chi phí thức ăn để sản xuất trứng gà vỏ màu cao hơn chút ít (133-190/151-190), tầm vóc cơ thể sau khi đẻ nhóm gà vỏ màu cao hơn. Gà đẻ trứng vỏ màu ít chịu ảnh hưởng của stress môi trường, sức sản xuất trứng ổn đinh và tỷ lệ nuôi sống cao hơn gà lông trắng, đẻ trứng vỏ trắng. Vì vậy tạo gà lai đẻ trứng vỏ màu đang là xu hướng của các nhà tạo giống gà. Bảng 3. 7: Gà lai đẻ trứng vỏ màu Gà lai Hãng sản xuất Sản lƣợng trứng Trọng lƣợng trứng (g) Thức ăn/trứng Bebkok B- 380 Bebkok Mỹ 235-255 61,8-62,5 151-193 Decan Ambelin Decanb Mỹ 256-296 63,0-65,4 170 Decan Drilink Decanb Mỹ 256-296 53,0-65,0 170 Khixec đỏ Euribrit Hà lan 260-293 61,2-63,5 172 Khubard Khubard 265-279 61,4-62,5 165 67 Mỹ Lohman Lohman Đức 279 62,5 168 Roc đỏ Roc Anh 270 63,0 154 Uoren SSL Uoren Mỹ 256-289 61,1-62,1 153-166 Tetral CL Babina Hung 244-274 64,1-65 154-181 3.3.2.2. Lai tạo và sử dụng ưu thế lai trong chăn nuôi gia cầm ở nước ta Ứng dụng các thành tựu của di truyền học và lai tạo giống gia cầm của thế giới vào thực tiễn chăn nuôi gia cầm ở nước ta đã được các nhà khoa học quan tâm từ những năm 70, nhưng phát triển mạnh và có đóng góp tích cực cho sản xuất là khoảng 10 năm trở lại đây. Các công trình nghiên cứu lai tạo được thực hiện theo 3 hướng: 1) lai giữa các giống/dòng gia cầm cao sản nhập nội; 2) lai giữa các giống gia cầm địa phương trong nước; 3) lai giữa một giống là gia cầm cao sản nhập nội với một giống địa phương. Kết quả các công trình nghiên cứu đã được đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành chăn nuôi (tạp chí nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm, nay là nông nghiệp và phát triển nông thôn thuộc Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, tạp chí chăn nuôi của Hội chăn nuôi Việt Nam và trên website của Bộ giáo dục và đào tao www/hed.edu.vn. Thông tin chi tiết tìm trên các tài liệu này). Thống kê chưa đầy đủ, các công trình nghiên cứu về lai tạo và sử dụng ưu thế lai trong chăn nuôi gà thể hiện trên bảng 3.8. Bảng 3. 8: Tổng hợp các công trình lai tạo gà đã công bố ở nƣớc ta Cặp lai Tác giả, năm công bố Plymouth x Ri Tạ An Bình, 1973 68 Red Rhode island x Mía Cornish x Ri Phù lưu tế x Sussex Plymouth x Ri Red Rhode island x Ri Newhampshire x Ri Nguyễn Đức Hưng, 1975 Các dòng gà Plymouth TD8 xTD3 TD83 x TD9 Lê Hồng Mận, Đoàn Xuân Trúc, 1984 Red Rhode island x Ri Bùi Quang Tiến, Nguyễn Hoài Tao, 1985 Các dòng gà Leghorn BVX x BVY Nguyễn Huy Đạt, 1991 Tổ hợp lai 3 máu của gà Hybro 85 Đoàn Xuân Trúc, Lê Hồng Mận, Nguyễn Huy Đạt, Trần Long, 1993 Ross 208 x HV85 Đoàn Xuân Trúc, Lê Hồng Mận, Nguyễn Huy Đạt, Nguyễn Thanh Sơn, 1996 Tiền Giang x Tam Hoàng Lê Thanh Hải, Lê Hoàng Dung, Đồng Sỹ Hùng, 1997 Rhode island x Goldline Lê Thanh Hải, Lê Hoàng Dung, Đồng Sỹ Hùng, 1997 Tam Hoàng 882 x RhodeRi Phạm minh Thu, Trần Công Xuân, 1997 Đông Tảo x TH Jangcun Nguyễn Đăng Vang, Trần Công Xuân, 1999 Giữa các dòng gà Bình Thắng (BT1, BT2) Lê Thanh Hải, Lê Hoàng Dung, Đồng Sỹ Hùng, 1999 Kabir x Ri Mía x Ri Nguyễn Thanh Sơn, Nguyễn Huy Đạt, 1999 69 Tam Hoàng x Brownic Tam Hoàng x Bình Thắng Nguyễn Đức Hưng, Nguyễn Thị Thanh, 1999 Kabir x Ri Tam Hoàng x Ri Tam Hoàng x Mía Tam Hoàng x Hồ Nguyễn Thanh Sơn, Nguyễn Huy Đạt, Nguyễn Đăng Vang, 2001 Kabir x Lương Phượng Lương Phượng x Kabir Trần Công Xuân và cộng sự, 2002 Mía x Kabir Ri x Kabir Trần Sáng Tạo, Nguyễn Đức Hưng, Nguyễn Đăng Vang, 2002 Lương Phượng x Sasso Phùng Đức Tiến và cộng sự, 2003 Tam Hoàng x Tàu Vàng Lương Phượng x Tàu Vàng Lâm Minh Thuận, 2004 Lương Phượng x Ri Nguyễn Huy Đạt, 2004 Goldline x Ai Cập Phùng Đức Tiến và cọng sự, 2004 Ri x Lương Phượng Mía x Lương Phượng Đông Tảo x Lương Phượng Ri x Kabir Mía x Kabir Đông Tảo x Kabir Vũ Ngọc Sơn, Nguyễn Huy Đạt, 2006 Các đối tượng gia cầm khác cũng được lai tạo với những công thức khác nhau. Lai giữa vịt Bắc kinh với vịt Bầu (Phạm Văn Trượng và cộng sự, 1990), lai giữa vịt Khakicampbell với vịt Cỏ (Nguyễn Đức Hưng, 1993; Trần Thanh Vân, 1998), Giữa các dòng vịt siêu thịt với nhau (Hoàng Văn Tiệu và cộng sự, 1993, 2003, 2004, 2005)… Lai giữa các dòng ngan pháp với nhau và với ngan 70 nội: lai chéo dòng ngan pháp R31 x R51 (Nguyễn Đức Hưng, Mai Danh Luân, 2001), lai giữa ngan R71 và vịt CV-2000 (Nguyễn Đức Hưng, Lương Thị Thủy, 2004; Phạm Văn Trượng, Nguyễn Đức Trọng, 2003)… Lai giữa các dòng bồ câu pháp với bồ câu nhà (Trần Công Xuân và cộng sự, 2003-2004)…Ở hầu hết các công thức lai và hầu như ở tất cả các đối tượng gia cầm khi lai đều cho ưu thế lai và có thể sử dụng trong sản xuất thịt, trứng có hiệu quả cao hơn các giống địa phương. Một số nhóm giống mới đã được công nhận đưa vào sản xuất như gà RốtRi, gà Bình Thắng (BT1, BT2)… 3.3.3.Phƣơng pháp tạo các dòng gà lai có năng suất cao Các dòng gà lai có năng suất cao hiện nay được ra theo nguyên tắc chung và theo sơ đồ sau của Piuzen (1982). Quần thể từ một hoặc nhiều giống ban đầu +Hình thành các dòng cận huyết Các dòng cận huyết E B Z M A B C F M +Thử nghiệm sự kết hợp giữa các dòng Các dòng có khả năng kết hợp tốt B E C Z M BE x EC ZM +Con lai đơn (2 dòng) BCE ECZM +Con lai phức tạp (3-4 dòng) 71 Lai kinh tế trong chăn nuôi gà công nghiệp có nhiều công thức khác nhau: -Đơn giản nhất là lai chéo 2 dòng. Ví dụ: trống Leghorn dòng X với mái dòng Y = mái thương phẩm Leghorn. -Giữa trống dòng thuần với mái là sản phẩm lai tạo để tạo ra con lai thương phẩm. Ví dụ: công thức lai Plymouth 791 (P.983) Bước 1 tại trại ông bà lai trống 488 x mái 433 132A (P.83). trống 799 x mái 799 dòng thuần (P.9) Bước 2 tại trại bố mẹ lai trống dòng thuần 799 x mái lai 132A 791 -Giữa gà trống dòng cha, mái dòng mẹ đều là sản phẩm lai cùng giống hoặc khác giống tạo ra gà lai thượng thẩm 4 máu. Ví dụ công thức lai tạo gà Hybro của Cuba. Bố là sản phẩm của 2 dòng Cornic P1,I1; mẹ là sản phẩm của 2 dòng Plimut B1,B7. 3.4. Hệ thống công tác giống gia cầm Các nước có ngành gia cầm phát triển, hệ thống giống có dạng hình tháp mà đỉnh là các trung tâm giống gốc, tiếp đến là các trại giống ông bà, trại giống bố mẹ, dưới cùng là hệ thống các trại thương phẩm có số lượng và qui mô lớn gấp nhiều lần các cơ sở cung cấp giống. -Trung tâm giống gốc có nhiệm vụ giữ giống gốc nguyên chủng, cải tiến giống cho phù hợp với địa phương và yêu cầu của sản xuất, tự thay đàn. Sản phẩm là gia cầm thuần chủng dòng thuần, cung cấp giống cho trại ông bà. -Trại ông bà nhân giống và lai chéo dòng để tạo ra gia cầm hậu bị bố mẹ theo các công thức lai đã định trước. 72 -Trại thương phẩm chỉ nên mua gia cầm con từ trại bố mẹ mới đảm bảo chất lượng con giống. Trong chăn nuôi gia cầm không dùng dòng thuần để nuôi thương phẩm mà phải trải qua quá trình lai kinh tế theo các công thức nhất định đã được nghiên cứu xác định. Lai kinh tế nhằm mục đích: Tạo giống thương phẩm có sức sống cao, dễ nuôi, hiệu quả kinh tế cao hơn là dòng thuần. Tạo đặc điểm màu lông khác nhau để tách trống mái lúc mới nở. Nhằm giữ độc quyền về con giống, giống gốc, giống ông bà, người nuôi thương phẩm nuôi gia cầm lai không tự nhân đàn để tái sản xuất được. 3.5. Các giống gia cầm đang nuôi phổ biến hiện nay 3.5.1. Các giống gà 3.5.1.1. Gà hướng trứng Đặc điểm chung Gà hướng trứng được phổ biến trong nước cũng như trên thế giới bởi chính ở sản lượng trứng cao của nó (trên 250 trứng/năm). Gà hướng trứng có đặc điểm chung là: Tầm vóc nhỏ, bộ lông dày, sít, ép sát vào thân. Mào, tích tai phát triển lớn. Chân nhỏ, cao, không có lông. Cơ thể có kết cấu vững chắc, dạng hình thoi hay hình chữ nhật dài. Sinh trưởng chậm nhưng thành thục về tính sớm (20- 21 tuần tuổi). Hoạt động sinh dục mạnh, tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ ấp nở cao, không còn khả năng ấp bóng, thuộc loại thần kinh linh hoạt). Hiện nay phân thành 2 nhóm gà đẻ trứng đó là gà đẻ trứng vỏ trắng và gà đẻ trứng vỏ màu. Tiêu biểu cho các giống gà hướng trứng là các giống Leghorn (trắng và đỏ), gà trắng Nga, gà Minhorka (Địa Trung Hải)…điển hình là giống Leghorn (hình 3.5). 73 Hình 3. 5: Gà Leghorn trắng Gà Leghorn là giống chuyên trứng cao sản nhất thế giới hiện nay. Gà được tạo ra từ giống gà địa phương của Ý (Từ cảng Livor Ý gà chuyển sang Mỹ năm 1835, gà có lông màu trắng, nhỏ con nhưng đẻ trứng tốt). Qua quá trình lai tạo các nhà khoa học Mỹ đã cho giống gà Leghorn ngày nay. Gà Leghorn đã có ảnh hưởng lớn đến toàn bộ ngành gà công nghiệp thế giới. Nó được nuôi rộng rãi ở hầu khắp các nước, ở các vùng khí hậu khác nhau trên thế giới. Trong sản xuất trứng gà Leghorn luôn chiếm tỷ trọng cao về đầu con và cao nhất về sản lượng trứng. Đặc điểm ngoại hình: Gà Leghorn có lông trắng toàn thân, và có giống Leghorn màu đỏ. Bộ lông dày, sít, xếp sát vào thân. Cấu trúc cơ thể chắc chắn, bộ xương khoẻ chắc. Mào đơn có 5 khía răng cưa nhỏ, gà mái khi đã đẻ gà thường ngả về một phía. Đầu nhỏ, mắt xanh, lá tai màu trắng xanh là đặc trưng di truyền trội của giống. Cổ 74 dài trung bình, ngực phát triển và hơi thẳng. Bụng và đuôi phát triển, với lông dài, mỏ, da, chân màu vàng. Sinh trưởng phát dục: Thể trọng gà con 1 ngày tuổi là 39- 40g/con. Thể trọng khi đẻ trứng quả đầu tiên là 1,4-1,6kg. Trưởng thành gà mái nặng 1,7-1,8kg, gà trống là 2,0-2,2kg/con. Là giống thành thục sớm, gà con đủ lông ở thánh thứ nhất, gà mái bắt đầu đẻ lúc 5-5,5 tháng tuổi. Sản lượng trứng trung bình một gà mái trong năm là 250-280 trứng, trọng lượng trứng 55-60 g/quả. Nhiều nước nuôi tốt gà Leghorn cho 300 trứng/con như Nhật, Canada, Mỹ. Tỷ lệ nở và trứng thụ tinh cao. Vỏ trứng có màu trắng. Ở Việt Nam gà Leghorn nhập vào lẻ tẻ từ nhiều nước khác nhau nhưng nhiều nhất là từ Cuba từ năm 1974, khi Cuba giúp xây dựng các trung tâm giống gà quốc gia. Ta nhập từ Cuba 2 dòng gà hướng trứng giống Leghorn là X và Y. Hình 3.6: Gà Leghorn nuôi ở Việt Nam Đặc điểm gà dòng X: Thân gọn, thon nhẹ, dài; mỏ, da chân màu vàng; lông màu trắng có ánh vàng; mào đơn 5 khía, to, đỏ tươi. Gà trống mào thẳng đứng, gà mái mào to ngả về bên trái che kín mắt. Lá tai màu trắng xanh. Tính tình nhanh nhẹn, ưa hoạt động. Gà dòng Y đặc điểm tương tự gà dòng X. Khi mới nở gà con lông có 75 màu nhạt hơn gà dòng X. Gà trống có chân cao hơn so với gà dòng X. Bảng 3.9: Sức sản xuất của 2 dòng gà Leghorn X và Y Ở Việt Nam Đặc điểm Gà dòng X Gà dòng Y Thể trọng lúc 9 tuần tuổi (g/con): trống mái 700-800 600-650 700-800 580-650 Thể trọng lúc 19 tuần tuổi (g/con): trống mái 1750-1850 1300-1450 1680-1800 1250-1450 Thể trọng lúc trưởng thành (g/con) trống mái 2200-2500 1600-1800 2100-2300 1600-1800 Sản lượng trứng (quả/mái đẻ/năm) 240-260 235-255 Trọng lượng trứng (g/quả) 51-55 52-56 Tỷ lệ ấp nở (%) 76-79 76-77 Thức ăn chi phí để sản xuất 10 quả trứng(kg) 1,60-1,90 1,70-1,80 Trong sản xuất tạo ra gà lai thương phẩm trứng từ việc lai giữa trống dòng X với mái dòng Y, con lai XY có sức sống, sức đẻ trứng cao hơn cả 2 dòng thuần, chi phí thức ăn thấp hơn. Gà Leghorn hiện đang được nuôi ở hầu khắp các tỉnh trong nước. Ngoài gà Leghorn các giống gà hướng trứng khác như Minhorka, Leghorn đỏ, gà Nga trắng…Thế giới đang đi theo hướng tạo gà Minileghorn, tầm vóc nhỏ nhưng sức đẻ trứng không thua gà Leghorn hiện tại. 3.5.1.2. Gà hướng thịt Đặc điểm chung 76 Gà hướng thịt có đặc điểm chung là tầm vóc lớn, tốc độ sinh trưởng nhanh, cơ thể có dạng hình khối vuông, bộ lông phát triển không ép sát vào thân, đầu to, cổ to ngắn, mỏ to chắc, ngực sâu rộng, lưng dài, rộng, phẳng, đùi lườn phát triển, xương thô, thành thục muộn, bản năng ấp bóng cao nên ản lượng trứng thấp (150-170 trứng/năm), khối lượng trứng lớn (58-60g/quả), thường có bản năng ấp trứng cao. Tỷ lệ thụ tinh và ấp nở thấp. Tính tình hiền lành, chậm chạp. Đại diện tiêu biểu cho hướng thịt là giống gà Cornic (Cornish) hình 3.7. Hình 3.7: Gà giống Cornish Một số đại diện điển hình Các giống gà thịt Châu Á Là những giống có tầm vóc lớn, trước đây đã nổi tiếng về khả năng cho thịt cao. Được sử dụng nhiều để tạo ra các giống gà chuyên 77 thịt cao sản hiện nay. Màu lông đa dạng, tuổi thành thục muộn, sản lượng trứng thấp, trọng lượng trứng lớn. Các giống nổi tiếng gồm: Gà Brama: Gốc ở vùng Brama Ấn độ, tạo ra từ gà thịt địa phương với gà Châu Á khác. Từ Ấn độ được chuyển chuyển đi các nước khác vào đầu thế kỷ IX. Gà có tầm vóc lớn, gà mái 4 kg; gà trống 5-5,5kg; sản lượng trứng 80-100 quả /năm. Trọng lượng trứng 60-65 g/quả. Vỏ trứng màu nâu. Gà Cochinchin (co xi xin): Gốc Trung Quốc. Màu lông đa dạng, mào đơn; gà trống 4-5kg; gà mái 4kg; tuổi đẻ 8-9 tháng. Gà Lang san: Gốc Trung Quốc; thể chất khoẻ, lông đen có các vệt xanh sẫm, bộ lông dày. Thể trọng gà mái 3-3,5kg, gà trống 4- 4,5kg. Sản lượng trứng 120-140quả/năm; trọng lượng trứng 65-68g, vỏ trứng màu nâu. Các giống gà để sản xuất gà thịt broiler Ở tất cả các nước có ngành chăn nuôi công nghiệp phát triển, sản xuất gà thịt Broiler đều dựa trên cơ sở 2 giống Plymouh rock (làm mẹ) và gà Cornish (làm bố). Gà Plymouth trắng: Là giống được tạo ra ở Mỹ vào cuối thế kỷ IX, gà mang tên thành phố mang tên nới đã sinh ra nó. Ban đầu tạo ra gà Plymouth vằn (1860-1870), sau đó lai với gà Leghorn trắng, Wyandotte trắng để tạo ra gà Plymouth trắng. Do có nhiều đặc tính kinh tế quý nên gà nhanh chóng được phổ biến ra nhiều nước trên thế giới. Gà được nuôi thuần chủng hoặc lai tạo gà lai nuôi thịt Broiler. Gà có tầm vóc lớn, lông trắng trội. Đầu hơi nhỏ so với toàn thân. Mào đơn thẳng, độ lớn trung bình. Tích tai màu đỏ. Cổ và lưng ngắn, ngực sâu, rộng. Thể trọng trưởng thành gà trống 3-3,5kg; gà mái 2,8-3,2kg. Thành thục muộn, tuổi đẻ 6,5-7 tháng. Sản lượng trứng 170-180 78 quả/năm. Trọng lượng trứng 58-60g. Trong chăn nuôi gà công nghiệp được dùng làm dòng mẹ để tạo gà lai Broiler. Gà Plymouth ở Việt Nam Nước ta nhập gà Plymouth rock từ Cuba với 3 dòng khác nhau ký hiệu là 433, 488,799. Sau nhiều năm nuôi thích nghi tại trung tâm gà giống Tam Đảo còn có tên là TĐ3 (dòng nhẹ), TĐ8,TĐ9 (dòng nặng). Bảng 3.10: Đặc điểm tóm tắt của 3 dòng gà Plymouth rock nuôi ở nƣớc ta Đặc điểm Dòng 433 (Nhẹ) Dòng 488 (Nặng) Dòng 799 (Nặng) Hướng sản xuất Trứng-thịt Thịt Thịt Lông, kết cấu cơ thể Trắng, thon nhẹ Trắng, thô Vằn đen- trắng Khả năng chịu nóng Tôt Kém Kem Thể trọng 8 tuần tuổi 1150-1300 1000-1100 1250-1450 1050-1200 1500-1650 1250-1300 TT lúc 19 tuần tuổi 3100-3300 2100-2400 3200-3500 2200-2500 3600-4400 2400-2800 TT lúc trưởng thành 3900-4100 2900-3200 4000-4500 3000-3500 4350-4650 3450-3650 Gà thịt 8 tuần tuổi 1050-1100 1150-1250 1200-2500 Chí phí TĂ/kg P tăng 2500-3000 2500-3000 2200-2500 Sản lượng trứng/năm 180-190 170-180 170-175 Trọng lượng trứng (g) 56-59 56-57 57-58 Tỷ lệ phôi (%) 88-90 86-90 80-85 Tỷ lệ sống đến 8 tuần (%) 95-98 96-98 90-95 79 Trong sản xuất gà lai nuôi thịt ở nước ta thường lai giữa các dòng thuần này với nhau theo các công thức: Dòng mẹ 433 x dòng bố 488 Con lai 132A: làm mẹ x Dòng bố 799 Con lai 3 máu 791 Con lai 132A có đặc điểm đẻ tốt. Sản lượng trứng 183-185 quả/năm. Tỷ lệ ấp nở 82-87%. Gà nuôi thịt 8 tuần tuổi đạt 1100- 1200g/con. Gà lai này có thể nuôi được trong khu vực tập thể và cả trong gia đình. Con lai 791 có màu lông vằn giống dòng thuần 799. Nuôi thịt 8 tuần tuổi đạt 1350-1600g/con. Chi phí thức ăn thấp nên được người nuôi nước ta ưa thích. Gà Hybro Gà Hybro hướng chuyên thịt, tạo ra ở Hà lan năm 1973. Nước ta nhập vào từ Cuba năm 1985. Gà Hybro có bộ lông màu trắng, nhập về nước ta 4 dòng S1, S3, S5, 12; nước ta gọi là V1,V3,V5,12. Mục đích sử dụng 4 dòng này là tạo ra gà lai nuôi thịt theo hướng Broiler theo các công thức 3-4 máu. V1 x 12 V3 x V5 V1-12 x V3V5 V1-12V3V5 (gà lai 4 máu) Công thức lai 4 máu hiện nay ít dùng. 80 Công thức lai 3 máu theo sơ đồ sau được dùng phổ biến V3 x V5 V3-5 x V1 V1V3V5 (con lai 3 máu) Đặc điểm của các dòng thuần -Dòng V1(S1) là dòng từ giống Cornish trắng. Tầm vóc to, mào đơn, ngực nở, là dòng nặng cân nhất. Thể trọng lúc 49 ngày là 2,2-2,5kg, lớn nhanh, mọc lông nhanh. -Dòng V3 (S3) là một dòng từ giống Plymouth rock trắng. Tầm vóc to, mào đơn, chân ,da vàng, lớn nhanh. -Dòng V5 (S5) là một dòng từ giống Plymouth rock trắng. Tầm vóc nhỏ hơn hai dòng trên. Sức đẻ trứng cao đạt 180 quả/năm; gà lớn nhanh. Cả ba dòng đều có màu lông trắng tuyền, mào đơn; chân, da vàng; cân đối; ngực sâu rộng; đùi to; sinh trưởng tốt. Bảng 3.11: Sức sản xuất của 3 dòng thuần gà Hybro Đặc điểm Dòng V1 Dòng V3 Dòng V5 Thể trọng lúc 42 ngày (g) 1000 900 800 Thể trọng lúc 140 ngày (g) 3400/2700 3200/2500 3100/2400 Thể trọng 252 ngày (g) 4400/3700 4200/3500 4100/3500 Sản lượng trứng (quả/năm) 130 150 180 Khối lượng trứng (g) 60 58 56 81 Gà Cornic (Cornish) Các nhà tạo giống Anh đã tạo ra gà Cornic từ việc lai gà chọi Bôixốp (Ấn Độ) Với gà chọi Azil và gà chọi của Anh vào năm 1850. Năm 1987 gà được đưa qua Mỹ và giống được hoàn thiện tại Mỹ. Hiện nay gà Cornic là giống có vai trò quan trọng trong lai tạo ra các gà lai nuôi thịt với vị trí luôn luôn là dòng bố. Là một giống chuyên thịt nhưng ít được chú ý dưới dạng thuần chủng, chỉ khi lai với các giống nặng cân trung bình cho kết quả nuôi thịt khá mới được mọi người quan tâm. Gà trưởng thành thể trọng con trống là 4,0-4,8kg; con mái 3,4-3,6kg. Nuôi thịt 10 tuần tuổi đạt 1,2-1,5kg. Sản lượng trứng 130-140 quả/năm; trọng lượng trứng 58,06g. Tỷ lệ nợ 70%. Gà có nhược điểm là tỷ lệ thụ tinh thấp, gà con khó nuôi, nên ít được nhân thuần. Nước ta nhập gà Cornic từ lâu, gần đây có nhập thêm dòng K làm bố trong các công thức lai tạo. Dòng K có sức sản xuất cao, 8 tuần đạt 1340-1370g; 19 tuần đạt 2500-2600g. Sản lượng trứng 160 quả; trọng lượng trứng 58-60g; chi phí thức ăn cho 1kg tăng trọng là 2,4kg. Ở nước ta, lai giữa bố dòng K với mẹ dòng 799 thuộc giống Plymouth con lai cho kết quả tốt. Nuôi thịt 8 tuần tuổi đạt 1600g (gà trống), 1300 (gà mái); 10 tuần tuổi đạt 1700-1800g. 3.5.1.3.Gà kiêm dụng Đặc điểm chung Các giống gà kiêm dụng mang đặc điểm trung gian giữa gà trứng và gà thịt về cấu trúc cơ thể, tầm vóc, sức sản xuất. Nhìn chung nó là sản phẩm lai tạo giữa các giống nhẹ cân và nặng cân. Một số giống đã nhập vào nước ta có ý nghĩa trong sản xuất là: Gà Rốt đỏ (Red Rhode island) Gà Rốt được tạo ra tại bang Rhode island (Mỹ) và mang tên của bang này. 82 Từ khi được tạo ra gà không ngừng được hoàn thiện và nhanh chóng phổ biến khắp các nước trên thế giới. Gà có màu lông đỏ sẫm, mào đơn thẳng, to trung bình, lá tai đỏ, chân có màu vàng da cam. Thể trọng gà mái 2,5-2,8kg, gà trống 3,2-3,5kg. Tuổi đẻ 5,5-6 tháng. Sản lượng trứng 180-200 quả/năm; trọng lượng trứng 55-58g. Tỷ lệ thụ tinh và ấp nở cao, gà dễ nuôi thích hợp với nhiều vùng khí hậu. Gà thích hợp tốt với điều kiện Việt Nam và lai với gà mái Ri cho con lai sinh trưởng và đẻ trứng đều tốt. Hình 3.8: Gà Rhode Island Sơ đồ lai tạo gà Rốt khá phức tạp. Gà mái địa phương (Mỹ) x Gà trống gốc Châu Á (Cochichin) Gà lai có màu đồng nhất x gà trống Leghorn đỏ Red Rhode island Gà có năng suất trứng cao, lông nâu đỏ 83 Các giống gà khác đưa vào nước ta như Newhampshire, Wyandotte, Sussex… những năm gần đây có nhập thêm các giống gà đẻ trứng vỏ màu như Goldline, Moravia… Các giống gia cầm chính được nhập nội vào nước ta qua con đường chính thức từ năm 1990 đến nay thể hiện trên bảng 3.12, 3.13. Bảng 3.12: Các giống gà đƣợc nhập nội từ năm 1990 đến nay. Stt Giống Nguồn gốc Năm nhập đầu tiên Hiện trạng I Gà chuyên thịt 1 BE.88 Cu Ba 1993 Không còn 2 AA (Arbor Acress) Mỹ 1993 Phát triển 3 ISA Vedette Pháp 1994 Không còn 4 ISA. MPK Pháp 1998 Phát triển 5 Avian Mỹ 1993 Phát triển 6 Ross-208, 308, 408 Anh 1993 Phát triển 7 Lohmann meat Đức 1995 Phát triển 8 Cobb Mỹ 1997 Phát triển II Gà chuyên trứng 1 Goldline. 54 Hà Lan 1990 Không còn 2 Brown Nick Mỹ 1993 Phát triển 3 Hisex Brown Hà Lan 1995 Phát triển 4 Hyline Mỹ 1996 Phát triển 5 ISA Brown Pháp 1998 Phát triển 6 Babcodd-B380 Pháp 1999 Phát triển 7 Lohmann Brown Đức 2002 Đang phát triển 84 III Gà kiêm dụng 1 Tam Hoàng 882 Trung Quốc 1992 Còn lại không nhiều 2 Tam Hoàng Jiangcun Hồng Công 1995 Còn lại không nhiều 3 Lương Phượng Trung Quốc 1997 Phát triển mạnh 4 ISA-JA 57 Pháp 1997 Còn lại không nhiều 5 Sasso (SA 31) Pháp 1998 Phát triển 6 Kabir Israel 1997 Phát triển 7 ISA. Color Pháp 1999 Phát triển 8 Ai Cập Ai Cập 1997 Phát triển 9 Hubbard Plex Pháp 2000 Phát triển 10 Newhampshire Hungari 2002 Ít phát triển 11 Yellow Godollo Hungari 2002 Ít phát triển 12 Gà Sao Hungari 2002 Đang phát triển Nguồn: Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2006. Bảng 3.13: Các giống vịt đƣợc nhập nội từ năm 1990 đến nay. TT Giống Nguồn gốc Năm nhập Hiện trạng I Các giống vịt 1 Super M Anh Trước 1990 và sau 1990 Phát triển tốt 2 Super Layer 2000 Anh Phát triển tốt 3 Khakicampell Anh Phát triển tốt

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfDi truyền liên kết giới tính ở gà.pdf