Đề tài Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân do gây thiệt hại ngoài hợp đồng

ĐẶT VẤN ĐỀ Trong lịch sử pháp luật thế giới, bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một trong những chế định xuất hiện sớm nhất của pháp luật dân sự. Quy định này cũng có nhiều sự khác biệt phụ thuộc vào sự phân tầng giai cấp trong mỗi xã hội cũng như điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội của mỗi quốc gia. Ở Việt Nam, chế định này cũng là một trong những chế định quan trọng của luật dân sự Việt Nam. Từ những văn bản hướng dẫn trước năm 1995 đến sự ra đời của BLDS năm 1995 và BLDS năm 2005, quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng ngày càng cụ thể, rõ ràng và tạo cơ sở pháp lý cần thiết cho việc áp dụng xét xử những tranh chấp liên quan đến vấn đề này, bảo đảm quyền lợi hợp pháp cho các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự. Hiện nay, đã có nhiều tác giả tham gia nghiên cứu về đề tài trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trên cả phương diện lý luận và áp dụng thực tế. Trong khuôn khổ bài tập học kỳ này, em xin chọn đề tài: “Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân do gây thiệt hại ngoài hợp đồng - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn.”

doc19 trang | Chia sẻ: tlsuongmuoi | Ngày: 31/05/2013 | Lượt xem: 2776 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân do gây thiệt hại ngoài hợp đồng, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ĐẶT VẤN ĐỀ Trong lịch sử pháp luật thế giới, bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một trong những chế định xuất hiện sớm nhất của pháp luật dân sự. Quy định này cũng có nhiều sự khác biệt phụ thuộc vào sự phân tầng giai cấp trong mỗi xã hội cũng như điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội… của mỗi quốc gia. Ở Việt Nam, chế định này cũng là một trong những chế định quan trọng của luật dân sự Việt Nam. Từ những văn bản hướng dẫn trước năm 1995 đến sự ra đời của BLDS năm 1995 và BLDS năm 2005, quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng ngày càng cụ thể, rõ ràng và tạo cơ sở pháp lý cần thiết cho việc áp dụng xét xử những tranh chấp liên quan đến vấn đề này, bảo đảm quyền lợi hợp pháp cho các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự. Hiện nay, đã có nhiều tác giả tham gia nghiên cứu về đề tài trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trên cả phương diện lý luận và áp dụng thực tế. Trong khuôn khổ bài tập học kỳ này, em xin chọn đề tài: “Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân do gây thiệt hại ngoài hợp đồng - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn.” GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ Những quy định của pháp luật hiện hành về năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân do gây thiệt hại ngoài hợp đồng Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Điều 604 BLDS 2005 quy định: “1. Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, câm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường. Trong trường hợp pháp luật quy định người gây thiệt hại phải bồi thường cả trong trường hợp không có lỗi thì áp dụng quy định đó.” Như vậy, theo quy định tại Điều 604 BLDS thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng phát sinh khi người có hành vi trái pháp luật có lỗi gây thiệt hại cho các lợi ích được pháp luật bảo vệ. Ngoài ra, pháp luật cũng quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng áp dụng ngay cả trong trường hợp không có lỗi như thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường… Dưới góc độ khoa học pháp lý, trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp này được gọi là trách nhiệm nâng cao. Vậy ta có thể đưa ra khái niệm về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng như sau: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm pháp lý được phát sinh dựa trên các điều kiện do pháp luật quy định khi một chủ thể có hành vi gây thiệt hại cho các lợi ích được pháp luật bảo vệ. Ngoài ra, căn cứ để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là theo quy định tại mục 1 phần I Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/07/2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về nguyên tắc phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Theo đó, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng chỉ phát sinh khi có đầy đủ các yếu tố sau: phải có thiệt hại xảy ra, hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật, có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra và hành vi trái pháp luật, có lỗi của người gây thiệt hại trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. 1.2 Ý nghĩa của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng không bị coi là hình phạt mà được xem như bổn phận, nghĩa vụ của người gây thiệt hại đối với người, tổ chức bị thiệt hại. Pháp luật ủng hộ việc người gây thiệt hại chủ động bồi thường thỏa đáng cho người bị thiệt hại. Quy định này có những ý nghĩa thực tế đó là: Xác định rõ chủ thể có trách nhiệm bồi thường thiệt hại để quy trách nhiệm cho người đó. Khắc phục hậu quả về tài sản. Là căn cứ để xác định tư cách chủ thể trong tố tụng dân sự, ai là bị đơn dân sự phải bồi thường theo trách nhiệm dân sự trước Tòa án trong trường hợp cá nhân gây thiệt hại cho người khác. Bảo vệ lợi ích của người bị thiệt hại hoặc nhân thân của người bị thiệt hại, để có căn cứ yêu cầu bồi thường thiệt hại, bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật. Giáo dục ý thức tuân thủ pháp luật. 1.2 Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường của cá nhân Hành vi gây thiệt hại có thể được thực hiện bởi bất cứ chủ thể nào. Tuy nhiên không phải chủ thể nào gây thiệt hại cũng có khả năng để thực hiện việc bồi thường. BLDS 2005 quy định trách nhiệm bồi thường trong nhiều trường hợp, tình huống cụ thể, có trường hợp trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh do tài sản gây ra, có trường hợp trách nhiệm này phát sinh do con người gây ra, có trường hợp người của pháp nhân, người của cơ quan nhà nước gây thiệt hại… Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân là khả năng một chủ thể thực hiện việc bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của mình hay của người khác gây ra, dẫn đến thiệt hại về tài sản, tính mạng, danh dự, nhân phẩm, uy tín (Theo quan điểm của TS Trần Thị Huệ, TS Vũ Thị Hải Yến). BLDS chỉ quy định về năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân mà không quy định về năng lực bồi thường của các chủ thể khác. Do vậy, có thể hiểu mặc nhiên các chủ thể khác gây thiệt hại sẽ được coi là có năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường của cá nhân theo pháp luật hiện hành được quy định tại Điều 606 BLDS 2005 và hướng dẫn tại mục 3 phần I Nghị quyết 03/2006/HĐTP-TANDTC ngày 08/07/2006 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao. Theo đó, năng lực này phụ thuộc vào độ tuổi, tình trạng tài sản của cá nhân đó và khả năng bồi thường thiệt hại. Trong những yếu tố trên, yếu tố về độ tuổi chiếm vị trí chủ đạo để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại thuộc về chính cá nhân gây ra thiệt hại hay là cha, mẹ; người giám hộ; trường học, bệnh viện hay tổ chức khác của người gây thiệt hại, vì độ tuổi là căn cứ để xác định khả năng nhận thức của cá nhân đối với hành vi của mình. 2. Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân do gây thiệt hại ngoài hợp đồng Đối với cá nhân từ đủ 18 tuổi trở lên và có năng lực hành vi dân sự đầy đủ Đối với người từ đủ 18 tuổi trở lên và có năng lực hành vi dân sự đầy đủ thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có thể xác định rõ ràng và trực tiếp. Khoản 1 Điều 606 BLDS quy định: “Người từ đủ 18 tuổi trở lên gây thiệt hại thì phải tự bồi thường.” Khi xem xét mối liên hệ giữa quy định này với quy định tại khoản 3 Điều 606 BLDS thì thấy rằng: Người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ thì phải tự mình bồi thường thiệt hại khi gây thiệt hại, cũng có nghĩa là trong trường hợp này người gây thiệt hại là bị đơn dân sự trước tòa án (Mục 3.1 phần I Nghị quyết 03/2006/NQ–HĐTP). Việc bồi thường khi người gây thiệt hại trên 18 tuổi và có đủ năng lực hành vi dân sự không phụ thuộc vào tình trạng tài sản của người này. Một câu hỏi đặt ra là trong hoàn cảnh người trên 18 tuổi nhưng bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì trách nhiệm bồi thường thiêt hại được xác định như thế nào? Người bị Tòa án tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự thì một giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người này đều phải thông qua người đại diện do Tòa án chỉ định. Tuy nhiên năng lực dân sự của họ bị hạn chế không có nghĩa là họ không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho người khác. Những người có năng lực hành vi bị hạn chế vẫn phải chịu trách nhiệm cho mọi hành vi của mình. Vì vậy họ vẫn phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp gây thiệt hại ngoài hợp đồng. Quy định tại khoản 1 Điều 606 BLDS là: “Người từ đủ 18 tuổi trở lên gây thiệt hại thì phải tự bồi thường.” Thế nhưng trên thực tế, có một số trường hợp người thành niên có đầy đủ năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại nhưng trách nhiệm bồi thường có chút phức tạp hơn, liên quan đến người của pháp nhân hoặc cán bộ, công chức… Sau đây là một ví dụ cụ thể về bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra. Ví dụ: Hai thanh niên A và B đi vào trung tâm thương mại chơi, 2 người vừa đi xem quầy hàng vừa ăn kem. X và Y là nhân viên bảo vệ của trung tâm nhắc nhở nội quy của trung tâm thương mại là khách không được ăn uống trong trung tâm trừ khu riêng biệt bán đồ ăn, thức uống cho khách. A và B không thực hiện theo mà vẫn điềm nhiên ăn tiếp. X và Y xông tới, đánh A và B và giam giữ 2 người này. Sau khi được thả ra, A và B tố cáo 2 nhân viên bảo vệ của trung tâm là X và Y về hành vi đánh người và bắt giữ người trái phép. Theo Điều 618 BLDS về bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra thì X và Y do gây thiệt hại trong khi thực hiện nhiệm vụ do trung tâm thương mại giao nên trung tâm thương mại đó phải bồi thường cho A và B. Sau khi bồi thường thiệt hại cho A và B xong, trung tâm thương mại có quyền yêu cầu X và Y hoàn trả một khoản tiền cho trung tâm theo quy định của pháp luật. 2.2 Đối với người dưới 18 tuổi và người mất năng lực hành vi dân sự Khoản 2 và khoản 3 Điều 606 BLDS quy định về trường hợp người chưa thành niên và người bị mất năng lực hành vi dân sự. Có thể chia làm các trường hợp: chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại là cha mẹ; người giám hộ hoặc trường học, bệnh viện, tổ chức khác. 2.2.1 Chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại là cha mẹ Với người dưới 15 tuổi Khoản 2 Điều 606 BLDS quy định: “Người chưa thành niên dưới 15 tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu, trừ trường hợp quy định tại Điều 621 của Bộ luật này.” Ví dụ: Ngày 16/10/2010, em Tùng (sinh năm 1998) hiện đang là học sinh lớp 7 trường Trung học cơ sở X. Tan học, khi đang cùng bạn bè đá bóng ở vỉa hè, Tùng chẳng may đá bóng vào chị Hương đang điều khiển xe gắn máy trên đường. Do bị bóng văng vào mặt, mất thăng bằng nên chị Hương bị ngã, bất tỉnh phải vào bệnh viện. Chị Hương đã phải điều trị thương tật hết 6 triệu đồng bao gồm: tiền khám, tiền viện phí, tiền thuốc để điều trị, chi phí chiếu, chụp X-quang theo chỉ định của bác sĩ. Vậy em Tùng là người chưa thành niên dưới 15 tuổi (vào thời điểm năm 2010 em Tùng 12 tuổi) mà cha, mẹ em vẫn còn; do đó cha mẹ của em Tùng là người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Người nhận bồi thường trong trường hợp này là người bị xâm phạm về sức khỏe do hành vi trái pháp luật của em Tùng gây ra, tức chị Hương. Với những người chưa đủ 15 tuổi, tức là chưa đến độ tuổi trưởng thành, giả sử người này có nhận thức hoàn toàn bình thường thì cũng không thể đã suy nghĩ, xem xét được đúng đắn sự việc xung quanh cũng như nhận thức được hành vi và hậu quả hành vi của bản thân. - Cá nhân chưa tới 6 tuổi được coi là không thể nhận thức hay làm chủ hành vi của mình, được coi là không có năng lực hành vi dân sự. Họ không thể tự mình xác lập giao dịch dân sự vì họ chưa đủ lý trí để nhận biết hành vi của mình và hậu quả của những hành vi đó, tức là họ cũng không thể có năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại cho người khác, nên cha mẹ là người đại diện đương nhiên của họ trước pháp luật, phải chịu trách nhiệm bồi thường và là bị đơn trước Tòa án. - Cá nhân từ đủ 6 tuổi đến 15 tuổi được coi là có năng lực hành vi dân sự một phần, tức là đã nhận thức được nhưng không đầy đủ và còn nhiều hạn chế, nên chỉ có thể tự mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ trong một giới hạn nhất định: những giao dịch dân sự phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi. Với những giao dịch khác họ phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý. Sở dĩ như vậy vì mặc dù đã nhận thức được một phần nhưng những người ở độ tuổi này có thể thực hiện hành vi mà không thể nhìn thấy được tất cả hậu quả của nó, cũng như rất dễ bị lôi kéo, kích động. Căn cứ của việc cha mẹ chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho con khi con dưới 15 tuổi chính là việc người dưới 15 tuổi cần sự chăm sóc và quản lý của bố mẹ. Việc có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại ngoài hợp đồng của họ có phần lỗi thuộc về chủ thể quản lý và giáo dục họ. Nghĩa vụ này của cha mẹ cũng được quy định ở Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000: Điều 40: Bồi thường thiệt hại do con gây ra Cha mẹ phải bồi thường thiệt hại do con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự gây ra theo quy định tại Điều 611 của Bộ luật dân sự. Và Luật Bảo vệ chăm sóc trẻ em năm 2004: Điều 31: Trách nhiệm bảo đảm quyền dân sự 1. Cha mẹ, người giám hộ có trách nhiệm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của trẻ em; đại diện cho trẻ em trong các giao dịch dân sự theo quy định của pháp luật. 2. Cha mẹ, người giám hộ hoặc cơ quan, tổ chức hữu quan phải giữ gìn, quản lý tài sản của trẻ em và giao lại cho trẻ em theo quy định của pháp luật. 3. Trường hợp trẻ em gây ra thiệt hại cho người khác thì cha mẹ, người giám hộ phải bồi thường thiệt hại do hành vi của trẻ em đó gây ra theo quy định của pháp luật. Trên những cơ sở đó, BLDS quy định về trách nhiệm của cha mẹ khi con dưới 15 tuổi có hành vi gây thiệt hại ngoài hợp đồng. Vì vậy cha mẹ cũng là đại diện hợp pháp đương nhiên cho con, là bị đơn dân sự và có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại đối với những hành vi đó của con dưới 15 tuổi, còn chính cá nhân gây thiệt hại lại không có năng lực hành vi tố tụng dân sự trước Tòa án. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cha mẹ do con dưới 15 tuổi là trách nhiệm pháp lý, tức là dù cha mẹ có lỗi hay không trong việc quản lý, giáo dục con mình thì vẫn phải chịu trách nhiệm bồi thường. Ngoài ra khoản 2 cũng quy định việc lấy tài sản của con chưa đủ 15 tuổi để bồi thường vào phần còn thiếu nếu cha mẹ không có đủ tài sản để bồi thường. Ý nghĩa của việc này chính là để bảo đảm nguyên tắc bồi thường toàn bộ và kịp thời, đảm bảo lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại. Với người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi Khoản 2 Điều 606 BLDS cũng quy định: “Người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình.” Ví dụ: A và B cùng 16 tuổi đang là học sinh lớp 10, tan học, cả hai đèo nhau đi học về bằng xe đạp, A ngồi yên sau đạp xe còn B ngồi trước điều chỉnh tay lái. Khi đang phóng xe trên vỉa hè, do mải cười đùa, không chú ý nên đã đâm vào cụ C 70 tuổi làm cụ gãy cột sống. Mặc dù đã được điều trị nhưng do bị chấn thương nặng nên cụ C bị liệt, không đi lại được. Vậy trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong tình huống này được xác định như thế nào? Vì A và B 16 tuổi nên theo đoạn 2 khoản 2 Điều 606 BLDS, A và B phải tự bồi thường thiệt hại bằng tài sản của mình. Nếu A và B không có tài sản hoặc tài sản không đủ để bồi thường thiệt hại cho cụ C thì cha, mẹ của A và B phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho cụ C. Ngoài ra, do A và B cùng gây thiệt hại nên theo Điều 616 BLDS, A và B phải cùng liên đới bồi thường thiệt hại cho cụ C. Đối với người từ đủ 15 tuổi đến 18 tuổi, đây là độ tuổi nhận thức đã khá hoàn thiện và cũng có rất nhiều người đã lao động có thu nhập hoặc có tài sản riêng. Người từ đủ 15 tuổi đến 18 tuổi được pháp luật quy định là có năng lực hành vi dân sự không đầy đủ, nhưng khả năng nhận thức của họ đã phát triển, vì vậy ngoài việc được thực hiện những giao dịch dân sự nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày, họ còn được phép thực hiện những giao dịch dân sự khác, thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự nếu có tài sản. Vì vậy, việc pháp luật quy định khi gây ra thiệt hại thì những người này phải bồi thường thiệt hại bằng tài sản của mình là hoàn toàn hợp lý. Hơn nữa, quy định này cũng phù hợp với nhiều quy định pháp luật ở các bộ luật khác: theo quy định của Bộ luật lao động Việt Nam được sửa đổi, bổ sung năm 2006, thì họ đã có quyền tham gia vào các hợp đồng lao động và có tư cách tố tụng đối với những tranh chấp liên quan đến hợp đồng lao động đó. Theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, con từ đủ 15 tuổi cũng có những trách nhiệm nhất định để chăm lo đời sống gia đình, và nếu có thu nhập thì đóng góp vào các nhu cầu thiết yếu của gia đình. Như vậy, người từ đủ 15 tuổi đã có thể có tài sản riêng, phần nào ý thức được nghĩa vụ và trách nhiệm, định đoạt được ý chí của mình khi tham gia vào các quan hệ dân sự phổ biến. Họ có một phần năng lực hành vi dân sự để chịu trách nhiệm đối với hành vi của mình trước Tòa án, vì vậy pháp luật mới quy định về nghĩa vụ bồi thường thiệt hại bằng tài sản riêng của người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi. Trong trường hợp con đã đủ 15 tuổi nhưng chưa có tài sản riêng, hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu, vì người từ đủ 15 tuổi đến 18 tuổi mặc dù khả năng nhận thức đã rất cao, nhưng vẫn chưa trưởng thành và vẫn còn cần sự giáo dục, quản lý của cha mẹ, dễ có những hành vi mà chưa lường hết được hậu quả. Vì vậy quy định này vừa nhằm bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người bị thiệt hại, vừa góp phần nâng cao trách nhiệm giáo dục con trong gia đình của cha, mẹ. Với người bị mất năng lực hành vi dân sự Người mất năng lực hành vi dân sự khi gây thiệt hại mà có cha, mẹ thì cha mẹ của họ phải bồi thường thiệt hại đó. Ví dụ: A là bệnh nhân tâm thần đang được điều trị tại bệnh viện tâm thần tỉnh X. Nhân dịp Tết Nguyên Đán, gia đình A xin cho A được về nhà ăn tết. Trong thời gian nghỉ tết, do cha mẹ lơ là trong việc trông nom A nên A đã ra khỏi nhà và gây thiệt hại cho bà B. Bà B yêu cầu gia đình anh A bồi thường. Trong trường hợp này, gia đình anh A đã xin bệnh viện cho anh A về nhà ăn tết cùng gia đình nên trong thời gian gây thiệt hại, anh A chịu sự quản lý của gia đình. Do đó gia đình anh A mà cụ thể là cha mẹ của anh A phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bà B chứ không phải là bệnh viên tâm thần tỉnh X. Chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại là người giám hộ Theo khoản 3 Điều 606 BLDS: “Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại mà có người giám hộ thì người giám hộ đó được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường.” Điều 58 BLDS quy định : “Giám hộ là việc cá nhân, tổ chức được pháp luật quy định hoặc được cử để thực hiện việc chăm sóc và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự.” Như vậy chế định về người giám hộ là để nhằm mục đích bảo vệ pháp lý cho người chưa thành niên và người bị mất năng lực hành vi dân sự mà không còn cha mẹ, không xác định được cha, mẹ hoặc cha mẹ bị mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự…Vì người giám hộ thực hiện quyền và nghĩa vụ theo pháp luật nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được giám hộ nên họ cũng phải gánh chịu những trách nhiệm pháp lý trong khi thực hiện trách nhiệm giám hộ của mình, bao gồm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi của người được giám hộ gây ra. Người giám hộ cũng có tư cách là bị đơn dân sự trước Tòa án. Ví dụ: Cha mẹ A bị thiệt mạng trong 1 trận sạt lở núi, chỉ còn A (10 tuổi) và anh trai ruột đang công tác tại tỉnh nhà. Sau giờ tan học ở trường, A đùa nghịch cùng B. Do mải chơi, A làm B ngã gãy tay và phải vào bệnh viện điều trị. Gia đình B yêu cầu anh trai A với tư cách là người giám hộ của A phải bồi thường thiệt hại. Ở đây, anh trai A là người giám hộ đương nhiên của A. Theo khoản 1 Điều 61 BLDS “Trong trường hợp anh ruột, chị ruột không có thỏa thuận khác thì anh cả hoặc chị cả là người giám hộ của em chưa thành niên; nếu anh cả hoặc chị cả không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì anh, chị tiếp theo là người giám hộ.” Ở đây cần xác định rõ điều này để tránh nhầm lẫn. Đó là khi gây thiệt hại, A đã hết giờ học ở trường và rời khỏi nhà trường nên nhà trường không phải bồi thường thiệt hại cho B. Do đó, trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp này thuộc về anh trai của A, người giám hộ đương nhiên của A. Anh trai A có thể dùng tài sản của A để bồi thường thiệt hại, nếu A không có tài sản riêng hoặc tài sản của A không đủ để bồi thường thì anh trai của A phải dùng tài sản riêng của mình để bồi thường thiệt hại cho B. Tương tự với người chưa thành niên, đối với những người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại mà vẫn còn cha, mẹ thì cha, mẹ cũng phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Người bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự là những người đã hoặc chưa thành niên mà không thỏa mãn yếu tố nhận thức, tức là không có khả năng nhận thức hoặc làm chủ hành vi của mình như những người mắc bệnh tâm thần. Do vậy họ không thể hiểu ý nghĩa, hậu quả cho những hành vi của mình, và không phải chịu trách nhiệm do những hành vi của mình gây ra. Vì vậy cha, mẹ là người giám hộ đương nhiên của người mất năng lực hành vi dân sự phải bồi thường thiệt hại khi con gây thiệt hại. Vì pháp luật quy định người chưa thành niên từ đủ 15 tuổi đến chưa tới 18 tuổi có quyền có giám hộ đương nhiên hoặc giám hộ cử, nên nhưng người này cũng có thể có người giám hộ theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 58 BLDS. Nhưng khác với người mất năng lực hành vi dân sự và người dưới 15 tuổi theo quy định tại khoản 3 Điều 58 BLDS là bắt buộc phải có người giám hộ, những người đã đủ 15 tuổi không bắt buộc phải có người giám hộ do họ có khả năng nhận thức cao hơn và đã có khả năng lao động. Theo khoản 3 Điều 606 BLDS nêu trên, nếu họ có người giám hộ thì khi người được giám hộ gây thiệt hại, người giám hộ có quyền dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường. Trong trường hợp người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thiệt hại thì người giám hộ có trách nhiệm bồi thường thiệt hại bằng tài sản của mình. Nếu như người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường. Mặc dù pháp luật không quy định, nhưng nếu người được giám hộ gây thiệt hại mà không có tài sản riêng để bồi thường và người giám hộ lại chứng minh được họ không có lỗi thì thiệt hại được coi là rủi ro và người bị thiệt hại phải gánh chịu. Đây là trường hợp căn cứ xác định người giám hộ là người chưa thành niên không còn cha, mẹ hoặc cha, mẹ không xác định được; hoặc cha, mẹ là người mất năng lực hành vi dân sự mà cũng có người giám hộ, và người giám hộ lại chứng minh được họ không có lỗi thì thiệt hại được coi là rủi ro và người bị thiệt hại phải gánh chịu. Yêu cầu bồi thường không thể thực hiện được. Chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại là trường học, bệnh viện, tổ chức khác Xuất phát từ nhận thức còn hạn chế (người dưới 15 tuổi) hoặc không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình (người mất năng lực hành vi dân sự), do đó Điều 621 BLDS quy định : Người dưới 15 tuổi trong thời gian học tại trường mà gây thiệt hại thì trường học phải bồi thường thiệt hại xảy ra. Người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại cho người khác trong thời gian bệnh viện, tổ chức khác trực tiếp quản lý thì bệnh viện, tổ chức khác phải bồi thường thiệt hại xảy ra. Ví dụ: Chị A là bệnh nhân tâm thần đang điều trị tại bệnh viện tâm thần tỉnh X. Trong thời gian điều trị, do sơ suất trong việc quản lý và trông nom của bệnh viện, chị A đã rời khỏi bệnh viện. Trên đường đi, chị A nhặt được hòn đá và ném đi. Anh B là người đang điều khiển xe gắn máy trên đường đã bị đá ném trúng đầu, bị thương phải vào bệnh viện. Trong trường hợp này, căn cứ vào khoản 2 Điều 621 BLDS, bệnh viện tâm thần nơi chị A điều trị sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi của chị A gây ra. Khi người dưới 15 tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự đang trong thời gian chịu sự quản lý của trường học, bệnh viện, tổ chức khác thì trường học, bệnh viện cũng như các tổ chức này phải có trách nhiệm quản lý, theo dõi những người mà mình quản lý. Có sự khác biệt của quy định này so với BLDS 1995 đó là: trong trường hợp người dưới 15 tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự gây ra thiệt hại trong thời gian quản lý của trường học, bệnh viện, tổ chức khác trực tiếp quản lý thì cha, mẹ và các tổ chức này liên đới bồi thường thiệt hại. Vậy quy định tại Điều 621 BLDS năm 2005 là nhằm buộc trường học, bệnh viện, các tổ chức phải tăng cường công tác quản lý người chưa thành niên dưới 15 tuổi, người bị mất năng lực hành vi dân sự. Tuy nhiên khoản 3 Điều 621 BLDS cũng quy định “Nếu trường học, bệnh viện, tổ chức khác chứng minh được mình không có lỗi trong quản lý thì cha, mẹ, người giám hộ của người dưới 15 tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự phải bồi thường.” Thực tiễn của việc áp dụng các quy định của pháp luật về năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân do gây thiệt hại ngoài hợp đồng. Các quy định của pháp luật về năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân đã tạo cơ sở pháp lý cho việc áp dụng để giải quyết những vụ việc trong thực tế, góp phần đáng kể vào việc nâng cao ý thức pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Tuy nhiên trên thực tế, việc giải quyết các vụ kiện đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do cá nhân gây ra còn rất nhiều khó khăn, vướng mắc, nguyên nhân không chỉ do các quy định của pháp luật còn chưa đầy đủ, rõ ràng, hợp lý mà việc xử lý bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do cá nhân gây ra cũng hết sức phức tạp. 3.1 Đối với quy định tại khoản 1 Điều 606 BLDS Khoản 1 Điều 606 BLDS quy định đối với người từ đủ 18 tuổi trở lên, khi gây thiệt hại thì phải tự bồi thường. Tuy nhiên xung quanh quy định này đặt ra vấn đề: trong trường hợp một người từ đủ 18 tuổi trở lên nhưng chưa có tài sản riêng mà vẫn sống dựa vào người khác thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người đó được giải quyết thế nào? Rõ ràng trong trường hợp này, nếu cha, mẹ hay người thân của người gây thiệt hại không tự nguyện bồi thường thay cho người gây thiệt hại thì người bị thiệt hại phải tạm thời chấp nhận rủi ro. Đây là một vấn đề cần được xem xét, vì ở nước ta, rất nhiều người từ đủ 18 tuổi trở lên nhưng vẫn còn đi học hoặc chưa có thu nhập, vậy thì nguyên tắc bồi thường toàn bộ và bồi thường kịp thời là khó thực hiện. 3.2 Đối với quy định tại khoản 3 Điều 606 BLDS Về khoản 3 Điều 606 BLDS quy định trách nhiệm bồi thường của người giám hộ đối với người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự: Trong trường hợp một người gây ra thiệt hại khi còn chưa bị tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, nhưng khi vụ việc được đưa ra Tòa án thì đã có kết luận là bị mất khả năng nhận thức và không làm chủ được hành vi của mình. Như vậy, hành vi gây thiệt hại của người này được thực hiện khi họ vẫn còn đủ năng lực hành vi dân sự, tức là người này vẫn phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi của mình gây ra. Tuy nhiên, nếu người này không có đủ tài sản để bồi thường thiệt hại thì có được phép lấy tài sản của cha, mẹ hoặc người giám hộ để bồi thường vào phần còn thiếu hay không? Theo quy định của pháp luật thì chỉ trong trường hợp có người giám hộ (đương nhiên hoặc được cử) khi người đó gây thiệt hại thì người giám hộ đương nhiên (cha, mẹ) hoặc giám hộ được cử ra mới phải chịu trách nhiệm, còn trường hợp này hành vi của người này xảy ra khi anh ta còn đủ năng lực hành vi dân sự và được đưa ra giải quyết khi đã mất năng lực hành vi dân sự, pháp luật đã không quy định một cách rõ ràng cho trường hợp này. 3.3 Đối với quy định tại Điều 621 BLDS Đối với quy định người dưới 15 tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự gây ra thiệt hại trong thời gian quản lý của trường học, bệnh viện, tổ chức khác trực tiếp quản lý: Một vấn đề đặt ra là, nếu trong thời gian xác định được thiệt hại gây ra (ví dụ như người bị thiệt hại gây ra thiệt hại về sức khỏe nhưng một thời gian sau mới chết) mà tổ chức chịu trách nhiệm quản lý người gây ra thiệt hại không còn tồn tại nữa thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại thuộc về ai? Pháp luật cũng không quy định trong trường hợp này trách nhiệm thuộc về cha, mẹ hay người giám hộ của người gây thiệt hại nên lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại sẽ không được bảo đảm. 4. Một số ý kiến đối với các quy định của pháp luật về năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân do gây thiệt hại ngoài hợp đồng. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây ra có rất nhiều trường hợp không phải trách nhiệm vật chất mà là trách nhiệm về tinh thần. Nếu có sự xâm phạm tinh thần được đưa ra thì pháp luật cần có những quy định cụ thể hơn cho việc đền bù thiệt hại, vì đối với thiệt hại vật chất có thể áp dụng đền bù ngang giá, nhưng không thể xác định được rõ ràng tổn thất về tinh thần là ở mức độ nào và đối với từng cá nhân khác nhau, một sự xâm phạm gây thiệt hại cũng với mức độ khác nhau. Hơn nữa, thiệt hại về tinh thần gây tổn thất lớn hơn so với thiệt hại khác, nhiều khi có thể gây ảnh hưởng lớn đến tâm lý của con người. Trong khi đó, pháp luật cũng chưa có một quy định cụ thể là trường hợp người chưa thành niên gây thiệt hại về tinh thần thì phải công khai xin lỗi. Nên chăng ngoài việc bồi thường thiệt hại bằng tài sản, cha, mẹ hoặc người giám hộ có trách nhiệm công khai xin lỗi người bị thiệt hại? 4.2 Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của trường học, bệnh viện và các tổ chức khác trong trường hợp quy định tại Điều 621 BLDS: Quy định này là nhằm nâng cao trách nhiệm của trường học, bệnh viện và các tổ chức khác đối với các đối tượng thuộc sự quản lý của mình. Tuy nhiên, với những bất cập vẫn còn đang tồn tại, có nên xem xét về việc nếu các tổ chức này không còn tồn tại khi vụ việc bồi thường thiệt hại được đưa ra giải quyết thì cha, mẹ hoặc người giám hộ của người gây thiệt hại phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại. Thực tế việc xét xử của Tòa án cũng cho thấy trong rất nhiều trường hợp gây thiệt hại ngoài hợp đồng, tư cách bị đơn chưa được xác định rõ ràng. Quá trình xác minh tài sản của người chưa thành niên cũng gặp nhiều khó khăn. Ngoài ra việc xác định lỗi của người giám hộ cũng là vấn đề cần phải xem xét, vì không thể có một căn cứ cụ thể nào xác định lỗi của người giám hộ và mức độ lỗi như thế nào? Vì vậy rất cần bổ sung thêm những quy định của pháp luật, các văn bản hướng dẫn về vấn đề này. Mặc dù pháp luật không quy định về năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của pháp nhân, cơ quan, tổ chức nhưng cũng có thể hiểu là pháp nhân, cơ quan, tổ chức cũng có trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên, do trách nhiệm bồi thường thiệt hại vẫn còn thiếu những quy định cụ thể nên rất nhiều trường hợp không thể phân định được rõ sau khi thiệt hại xảy ra thì cơ quan nào chịu trách nhiệm bồi thường? Vì vậy để đảm bảo tính thống nhất, nên bổ sung vào trách nhiệm bồi thường thiệt hại của pháp nhân, cơ quan, tổ chức khi công chức, người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành điều tra, tố tụng… người của pháp nhân gây thiệt hại thì cơ quan, pháp nhân, tổ chức phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với người bị thiệt hại, sau đó mới có quyền yêu cầu người có lỗi gây ra thiệt hại phải bồi thường lại cho mình. 4.5 Về cơ chế quản lý: đó là việc phối hợp giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng: Theo quy định của BLDS 2005, người bị thiệt hại có quyền đề nghị Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền giải quyết yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại. Do vậy cần có các quy định cụ thể về cơ quan có thẩm quyền giải quyết yêu cầu này trong những trường hợp khác nhau cũng như quy định về khả năng phối hợp giữa các cơ quan trong việc chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, đặc biệt đối với trường hợp bồi thường thiệt hại do cán bộ, công chức nhà nước, người có thẩm quyền trong các cơ quan Nhà nước gây ra. Tuyên truyền giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức của nhân dân về các chế định của BLDS trong đó có bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng: Nâng cao hiểu biết pháp luật của người dân nói chung và của cán bộ, công chức Nhà nước, người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng nói riêng thông qua việc tuyên truyền và nâng cao ý thức pháp luật, qua đó nâng cao ý thức của mỗi người đối với chính các quyền dân sự gắn liền với bản thân, đối với các quyền dân sự của người khác và với lợi ích chung của xã hội. Thực tế việc giám hộ đối với người chưa thành niên và người mất năng lực hành vi dân sự của nước ta vẫn còn rất nhiều bất cập. Cụ thể là nhiều trẻ em, người tâm thần chưa được chăm sóc, quản lý theo đúng như những gì mà họ cần nhận được theo tinh thần xã hội chủ nghĩa. Việc quản lý trẻ em dưới 15 tuổi không được thực hiện triệt để nên việc trẻ em bỏ nhà đi lang thang, kiếm sống bằng nghề đánh giày, bán báo… xảy ra rất nhiều; một số đã vi phạm pháp luật và gây hậu quả nghiêm trọng, nhưng việc bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại lại rất khó thực hiện. Ngoài ra công tác quản lý điều trị người bị tâm thần còn chưa chặt chẽ, dẫn đến việc gây rối trật tự, có các hành vi gây thiệt hại, thiếu sự phối hợp của gia đình với tổ chức xã hội và cơ quan nhà nước để quản lý. Vì vậy, việc thực hiện những chế định của Bộ luật dân sự nói chung và các chế định về năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói riêng còn cần có sự quan tâm và giáo dục từ phía gia đình, nhà trường và đặc biệt là sự quan tâm hơn nữa của các cấp, các ngành và các chính quyền cơ sở. KẾT THÚC VẤN ĐỀ Là một trong những chế định lâu đời nhất của luật dân sự trên thế giới, quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng hiện nay vẫn còn rất nhiều giá trị và cần thiết bởi cá nhân gây thiệt hại và việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại thuộc về ai không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn có ý nghĩa về mặt thực tiễn, đó là bảo vệ lợi ích của người bị thiệt hại hoặc nhân thân của người bị thiệt hại, để có căn cứ yêu cầu bồi thường thiệt hại, bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, qua đó nâng cao tinh thần trách nhiệm của cá nhân, tổ chức cũng như của toàn xã hội. Bởi vậy việc nghiên cứu, tìm hiểu về những quy định của pháp luật liên quan đến năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân do gây thiệt hại ngoài hợp đồng là rất cần thiết. Bài tập học kỳ của em còn nhiều thiếu sót, em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của thầy cô. Em xin chân thành cảm ơn!

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docNăng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân do gây thiệt hại ngoài hợp đồng - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn.doc
Tài liệu liên quan