Đề cương ôn tập quản lý nhà nước về kinh tế xã hội

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP: QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ-XÃ HỘI MỤC LỤC Câu 1: Khái niệm kinh tế thị trường? Các đặc trưng của nền kinh tế thị trường 2 Câu 2: Phân tích đặc trưng nền kinh tế thị trường? So sánh nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung với nền kinh tế thị trường? 3 Câu 3: Phân tích nội dung QLNN về kinh tế? Liên hệ trong quản lý kinh tế hiện nay? 9 Câu 4: Khái niệm văn hóa? Vai trò của văn hóa đối với sự phát triển KT-XH? 9 Câu 5: Phân tích các vai trò của văn hóa đối với sự phát triển KT-XH? Liên hệ vai trò của văn hóa trong quá trình phát triển kinh tế nước ta hiện nay? 16 Câu 6: Phân tích nội dung quản lý nhà nước về văn hóa? Liên hệ vào việc thực hiện nghị quyết của Đảng về xây dựng phát triển văn hóa Việt Nam, tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, hiện nay và tương lai? 21 Câu 7: Phân tích yêu cầu về nguồn nhân lực? Liên hệ với yêu cầu nguồn nhân lực Việt Nam hiện nay? 26 Câu 8: Phân tích đặc điểm nguồn lao động Việt Nam hiện nay? Liên hệ với yêu cầu thị trường lao động, nguồn nhân lực Việt Nam hiện nay được xác định phát triển như thế nào? 29 Câu 9: Nêu các quan điểm phát triển nguồn nhân lực Việt Nam? Nội dung quản lý nhà nước về lao động và nguồn nhân lực? 30

doc32 trang | Chia sẻ: tlsuongmuoi | Ngày: 01/06/2013 | Lượt xem: 8109 | Lượt tải: 32download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề cương ôn tập quản lý nhà nước về kinh tế xã hội, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
thể văn hoá. Tố chất con người (tinh thần yêu nước, trình độ khoa học công nghệ, tinh thần tổ chức xã hội, tính nhân văn...) có ý nghĩa quyết định làm nên sức mạnh của văn hoá ở mỗi quốc gia - dân tộc. Và do đó ở thời kỳ hiện đại, nói đến tiềm năng phát triển của mỗi quốc gia, người ta không chỉ nói tới tài nguyên thiên nhiên, mà phải nói tới yếu tố quyết định là văn hoá, được thể hiện qua năng lực sáng tạo, trí tuệ, tài năng, đạo đức của con người ở quốc gia đó... Với chức năng định hướng, đào tạo con người theo các giá trị chân - thiện - mỹ, văn hoá có khả năng xây dựng, làm hình thành trong phẩm chất của mọi thành viên xã hội ý thức phát huy các tiềm năng về thể lực, trí lực và nhân cách để đóng góp vào sự nghiệp phát triển của dân tộc. Thời hiện đại, sự phát triển của một số quốc gia ở Đông Á, đã đưa tới một số bài học cần tham khảo. Như Nhật Bản và Hàn Quốc chẳng hạn, một trong các yếu tố cơ bản trực tiếp góp phần làm nên nhịp độ phát triển nhanh chóng của hai quốc gia này là đã biết phát huy các đặc điểm ưu việt của nền văn hoá truyền thống vào quá trình phát triển, thông qua hệ thống giáo dục và hoạt động văn hoá có đầu tư thích đáng về con người và phương tiện vật chất. Họ không để cho làn sóng của văn minh hiện đại và giao lưu văn hoá ồ ạt lấn át các cơ sở văn hoá truyền thống được xây dựng qua hàng nghìn năm lịch sử của dân tộc, như tinh thần lao động có kỷ cương, tính hợp lý trong điều hành xã hội và mối quan hệ gia đình, thân tộc... Cho nên không ngẫu nhiên, UNESCO khẳng định rằng, nước nào tự đặt cho mình mục tiêu phát triển kinh tế mà tách rời khỏi môi trường văn hoá thì nhất định sẽ xảy ra mất cân đối nghiêm trọng cả về kinh tế lẫn văn hoá, và tiềm năng sáng tạo của những dân tộc ấy sẽ bị suy yếu rất nhiều. Chúng ta xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa, và điều Đảng ta khẳng định: văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội đã chỉ rõ vai trò cực kỳ quan trọng của văn hoá đối với sự phát triển của đất nước. Vì vậy, cần nhận thức sâu sắc về vị trí, vai trò của văn hoá trong sự nghiệp đổi mới. Dù chứa đựng một số giá trị mang tính nhân loại phổ biến, thì khi nói đến văn hoá của mỗi dân tộc, là nói tới đặc trưng riêng, tới hệ thống giá trị văn hoá riêng của dân tộc đó. Đây là di sản quý báu, đã được tích luỹ, trao truyền và bổ sung qua nhiều thế hệ, và chính các đặc điểm riêng trong sự sinh tồn của dân tộc đã làm cho văn hoá mang bản sắc riêng. Đồng thời với quá trình tích luỹ, trao truyền và bổ sung ấy, văn hoá của dân tộc còn tiếp nhận một số tinh hoa văn hoá của các dân tộc khác thông qua quá trình tiếp biến văn hoá, và động thái này đã làm cho văn hoá vừa đậm đà bản sắc dân tộc, vừa có tính thời đại, tính nhân loại, phù hợp với sự phát triển kinh tế. Điều đó có ý nghĩa hết sức quan trọng trong thời kỳ cách mạng khoa học và công nghệ, trước xu thế toàn cầu hoá ngày càng mạnh mẽ. Do vậy, sự phát triển đòi hỏi phải nâng cao vai trò, vị thế của văn hoá trong hoạt động kinh tế, văn hoá khơi dậy mọi tiềm năng sáng tạo của con người, quyết định sự tăng trưởng và phát triển bền vững. Và cũng do vậy, trong xã hội hiện đại, con người phải được xã hội tạo điều kiện và phải tự mình xây dựng yếu tố nền tảng của văn hoá là sự hiểu biết, là tri thức, kinh nghiệm, là phong cách ứng xử, là nhận thức về cống hiến và hưởng thụ..., trong quá trình học tập, lao động để duy trì, phát triển cuộc sống. Các yếu tố này, nếu được khai thác, phát huy sẽ trở thành một động lực to lớn đối với sự phát triển kinh tế. Cùng với quan điểm khách quan, khoa học trong việc tiếp thu tinh hoa tốt đẹp của văn hoá nhân loại, Đảng ta khẳng định, bản sắc văn hoá, tinh thần dân tộc là nguồn tài nguyên của dân tộc, của đất nước. Có thể nói rằng, trong lịch sử hàng chục thế kỷ xây dựng, bảo vệ Tổ quốc của dân tộc ta, nguồn lực quan trọng nhất trong truyền thống văn hoá là tinh thần yêu nước, chủ nghĩa yêu nước. Từ khi ra đời, Đảng ta đã động viên, bồi dưỡng và cổ vũ toàn dân phát huy cao độ tinh thần yêu nước để giành lại, giữ vững độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Thực tế cho thấy, những thành tựu to lớn mà toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã đạt được trong hơn nửa thế kỷ qua có vai trò của bản lĩnh, của bản sắc văn hoá Việt Nam, của sức mạnh của văn hoá Việt Nam. Chúng ta đang trong quá trình hội nhập thế giới, và toàn cầu hoá là cơ hội để văn hoá Việt Nam học hỏi và phát huy các giá trị của mình. Song chính lúc này, chúng ta phải đối mặt với các thách thức của quá trình toàn cầu hoá khi nó trực tiếp tác động tới văn hoá dân tộc. Cụ thể là, tác động của một số yếu tố tiêu cực từ toàn cầu hoá có khả năng cổ suý cho lối sống tiêu thụ thực dụng, làm tha hoá nhân cách, rối loạn một số giá trị xã hội, đặt không ít hoạt động văn hoá và không ít quan hệ xã hội trước nguy cơ bị thương mại hoá... Vì thế, hơn lúc nào hết, văn hoá phải góp phần bảo vệ và phát huy các giá trị văn hoá đích thực, vì sự phát triển của xã hội và con người, để thúc đẩy, hướng dẫn sự phát triển trước những thách thức của toàn cầu hoá và mặt trái của kinh tế thị trường. Như vậy, bước vào thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH, mở rộng quan hệ quốc tế, muốn đạt tới các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn hiện nay và về lâu dài, một trong các vấn đề quan trọng trước hết là chúng ta cần triển khai thực hiện các quan điểm như Nghị quyết Trung ương (khoá VIII) và Kết luận Hội nghị lần thứ 10 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá IX) khẳng định: Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy công cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Đó là nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc mang nội dung cốt lõi là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kế thừa truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu những tinh hoa văn hoá của nhân loại. Điều đó đòi hỏi chúng ta cần tiếp tục củng cố, phát triển một nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất trong đa dạng; và văn hoá đó phải là tổng hoà các tinh hoa văn hoá của các dân tộc anh em cùng chung sống trên đất nước Việt Nam. Văn hoá đó phải giữ vị trí là bộ phận cấu thành bản chất của xã hội, là bộ phận cấu thành phẩm chất của mỗi người trong xã hội. Văn hoá đó phải trực tiếp góp phần xây dựng đất nước và con người Việt Nam của thời đại mới. Câu 5: Phân tích các vai trò của văn hóa đối với sự phát triển KT-XH? Liên hệ vai trò của văn hóa trong quá trình phát triển kinh tế nước ta hiện nay? Vai trò của văn hóa: 1. Văn hóa là mục tiêu phát triển KT-XH; 2. Văn hóa là nền tảng sự phát triển kinh tế- xã hội; 3. Văn hóa là động lực cho sự phát triển KT-XH; 4. Văn hóa là hệ điều tiết sự PT KT-XH; Vai trò của văn hóa trong quá trình phát triển đất nước - Văn hóa là mục tiêu của sự phát triển bởi lẽ, văn hóa do con người sáng tạo ra, chi phối toàn bộ hoạt động của con người, là hoạt động sản xuất nhằm cung cấp năng lượng tinh thần cho con người, làm cho con người ngày càng hoàn thiện. Trong vài thập kỷ trước đây, có một số nước cho rằng: chỉ cần tăng trưởng kinh tế với việc sử dụng cơ chế kinh tế thị trường cùng với việc phát triển sử dụng khoa học công nghệ cao là có sự phát triển. Sau một thời gian thực hiện kết quả cho thấy, các quốc gia đó đạt được một số mục tiêu về tăng trưởng kinh tế nhưng đã vấp phải sự xung đột gay gắt trong xã hội, sự suy thoái về đạo đức, văn hóa ngày càng tăng. Từ đó, kéo theo kinh tế phát triển chậm lại, mất ổn định xã hội tăng lên và cuối cùng là sự phá sản của các kế hoạch phát triển kinh tế, đất nước rơi vào tình trạng suy thoái, không phát triển được. Đây là quan niệm phát triển nhanh bằng cách hi sinh các giá trị văn hóa – xã hội cho sự phát triển. Trên thực tế đã bị phá sản. Từ thực tế đó, một số nước đã lựa chọn mô hình: tăng trưởng kinh tế, cùng với việc phát triển tài nguyên con người, bảo vệ môi trường sinh thái. Mô hình này, tuy tăng trưởng kinh tế không nhanh, nhưng lại bền vững, xã hội ổn định. Đây là quan niệm phát triển kinh tế gắn liền với phát triển văn hóa, được các nhà khoa học, các chính khách thừa nhận. Từ đó, cho rằng: Phát triển là một quá trình nội sinh và tự hướng tâm của sự tiến hóa toàn cục đặc thù cho mỗi xã hội. Vì vậy, cho nên ở đây có sự tương đồng về nghĩa và khả năng chuyển hóa lẫn nhau giữa phát triển và văn hóa. Văn hóa bao trùm tất cả các phương diện của hoạt động xã hội. Vậy văn hóa là gì? Hiện nay vẫn đang còn có nhiều định nghĩa về văn hóa, bởi lẽ văn hóa là sản phẩm do lao động của con người tạo ra mà hoạt động lao động của con người rất đa dạng, thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau. Từ đó đi đến việc tạo ra những quan niệm cụ thể khác nhau: văn hóa du lịch; văn hóa kinh doanh, văn hóa ẩm thực … Ở đây trong bài viết này trình bày khái niệm văn hóa theo nghĩa rộng được nhiều nhà nghiên cứu tán thành. Đó là: Văn hóa là hệ thống giá trị vật chất và tinh thần do lao động của người sáng tạo ra, được cộng đồng khẳng định tích lũy lại, tạo ra bản sắc riêng của từng tộc người, từng xã hội. Trong Nghị quyết Trung ương 5 ( Khóa VIII), Đảng ta khẳng định: Văn hóa Việt Nam là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần do cộng đồng các dân tộc Việt Nam sáng tạo ra trong quá trình dựng nước và giữ nước…, là kết quả giao lưu và tiếp thu tinh hoa của nhiều nền văn minh thế giới để không ngừng hoàn thiện mình. Văn hóa Việt Nam đã hun đúc nên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam, làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang của dân tộc. Văn hóa là mục tiêu của sự phát triển bởi lẽ, văn hóa do con người sáng tạo ra, chi phối toàn bộ hoạt động của con người, là hoạt động sản xuất nhằm cung cấp năng lượng tinh thần cho con người, làm cho con người ngày càng hoàn thiện, xa rời trạng thái nguyên sơ ban đầu khi từ con vật phát triển thành con người. Con người tồn tại, không chỉ cần những sản phẩm vật chất mà còn có nhu cầu hưởng thụ sản phẩm văn hóa tinh thần, con người và xã hội loài người càng phát triển thì nhu cầu văn hóa tinh thần đòi hỏi ngày càng cao. Đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần đó chính là đảm bảo sự phát triển ngày càng nhiều của cải vật chất cho con người và xã hội. Trên ý nghĩa đó, văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, đồng thời là mục tiêu của sự phát triển. Vì xét cho cùng, mọi sự phát triển đều do con người quyết định mà văn hóa thể hiện trình độ vun trồng ngày càng cao, càng toàn diện con người và xã hội, làm cho con người và xã hội ngày càng phát triển, tiến bộ; điều đó nghĩa là ngày một xa rời trạng thái nguyên sơ, mông muội để tiến tới một cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc và văn minh. Trong đó, bản chất nhân văn, nhân đạo của mỗi cá nhân cũng như của cả cộng đồng được bồi dưỡng; phát huy trở thành giá trị cao quý và chuẩn mực tốt đẹp của toàn xã hội. Mục tiêu này phù hợp với khát vọng lâu đời của nhân loại và là mục đích phát triển bền vững, tiến bộ của các quốc gia, dân tộc. Đây là một nội dung quan trọng của Chủ nghĩa xã hội mà chúng ta đang xây dựng Văn hóa là động lực của sự phát triển, bởi lẽ mọi sự phát triển đều do con người quyết định chi phối. Văn hóa khơi dậy và nhân lên mọi tiềm năng sáng tạo của con người, huy động sức mạnh nội sinh to lớn trong con người đóng góp vào sự phát triển xã hội. Trước đây, để phát triển kinh tế, người ta thường nhấn mạnh và khai thác yếu tố lao động của con người cho sự phát triển. Ngày nay, trong điều kiện của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, yếu tố quyết định cho sự phát triển là trí tuệ, là thông tin, là sáng tạo và đổi mới không ngừng nhằm tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần ngày càng cao, đáp ứng nhu cầu đa dạng và phong phú của mỗi người cũng như của toàn xã hội. 3.Văn hóa là động lực cho sự phát triển; Trong thời đại ngày nay, một nước giàu hay nghèo không chỉ ở chỗ có nhiều hay ít lao động, vốn, kỹ thuật và tài nguyên thiên nhiên, mà chủ yếu ở chỗ có khả năng phát huy đến mức cao nhất tiềm năng sáng tạo của nguồn lực con người hay không? Tiềm năng sáng tạo này nằm trong các yếu tố cấu thành văn hóa, nghĩa là trong ý chí tự lực, tự cường và khả năng hiểu biết, trong tâm hồn, đạo lý, lối sống, trình độ thẩm mỹ của mỗi cá nhân và của cả cộng đồng. Một chính sách phát triển đúng đắn là chính sách làm cho các yếu tố cấu thành văn hóa thấm sâu vào tất cả các lĩnh vực sáng tạo của con người: văn hóa trong sản xuất, văn hóa trong quản lý, văn hóa trong lối sống, văn hóa trong giao tiếp, văn hóa trong sinh hoạt gia đình, ngoài xã hội, văn hóa trong giao lưu và hợp tác quốc tế… Nói cách khác, hàm lượng trí tuệ, hàm lượng văn hóa trong các lĩnh vực của đời sống con người càng cao bao nhiêu thì khả năng phát triển kinh tế - xã hội càng trở nên hiện thực bấy nhiêu. 4. Văn hóa là hệ điều tiết của sự phát triển. Bởi lẽ, văn hóa phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của các nhân tố khách quan và chủ quan, của các điều kiện bên trong và bên ngoài, bảo đảm cho sự phát triển được hài hòa, cân đối, lâu bền. Trong nền kinh tế thị trường, một mặt văn hóa dựa vào chuẩn mực của nó là chân, thiện, mỹ (cái đúng, cái tốt, cái đẹp) để hướng dẫn và thúc đẩy người lao động không ngừng phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, nâng cao tay nghề, sản xuất hàng hóa với số lượng ngày càng nhiều với chất lượng ngày càng cao, đáp ứng nhu cầu không ngừng tăng lên của xã hội; mặt khác, văn hóa sử dụng sức mạnh của các giá trị truyền thống, của đạo lý, dân tộc để hạn chế xu hướng sùng bái hàng hóa, sùng bái tiền tệ, nghĩa là hạn chế xu hướng tiêu cực của hàng hóa và đồng tiền “xuất hiện với tính cách là lực lượng có khả năng xuyên tạc bản chất con người, cũng như những mối liên hệ khác”. Hạn chế những tiêu cực này chỉ có thể là văn hóa và chủ yếu bằng văn hóa. Toàn cầu hóa kinh tế quốc tế là một xu thế, đòi hỏi chúng ta phải chủ động và tích cực hội nhâp. Đây là cơ hội để chúng ta phát triển nhanh có hiệu quả, nhưng cũng là thách thức rất lớn với nước ta trên nhiều mặt, trong đó có cả văn hóa. Sự thâm nhập của văn hóa độc hại, của sự lai căng văn hóa, của lối sống thực dụng và những tiêu cực khác của kinh tế thị trường…, đã và đang ảnh hưởng, làm băng hoại những giá trị văn hóa truyền thống, ảnh hưởng tới sự phát triển bền vững của đất nước… Cần phải hiểu rằng về mặt kinh tế, việc thực hiện chính sách hội nhập để tăng cường liên kết, liên doanh với nước ngoài là rất cần thiết. Song, mọi yếu tố ngoại sinh như vốn, kỹ thuật, công nghệ, kinh nghiệm quản lý và thị trường của nước ngoài chỉ có thể biến thành động lực bên trong của sự phát triển, nếu chúng được vận dụng phù hợp và trở thành các yếu tố nội sinh của con người Việt Nam với truyền thống văn hóa, đạo đức, tâm hồn, lối sống của dân tộc Việt Nam. Trên cơ sở kiến thức khoa học, kinh nghiệm và sự tỉnh táo, khôn ngoan, chúng ta cần giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong quá trình hội nhập, phát triển. Bởi lẽ, nền văn hóa dân tộc sẽ đóng vai trò định hướng và điều tiết để hội nhập và phát triển bền vững, hội nhập để phát triển nhưng vẫn giữ vững được độc lập, tự chủ. Hợp tác kinh tế với nước ngoài mà không bị người ta lợi dụng, biến mình thành kẻ đi vay nặng lãi, thành nơi cung cấp nguyên liệu và nhân công giá rẻ, thành nơi tiêu thụ hàng hóa ế thừa và tiếp nhận chuyển giao những công nghệ lạc hậu, tiếp nhận lối sống không lành mạnh với những ảnh hưởng văn hóa độc hại… Vì sự phát triển bền vững, văn hóa phê phán lối sống thực dụng, chụp giật, chạy theo ham muốn quá mức của “xã hội tiêu thụ”, dẫn đến chỗ làm cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường sinh thái. Như vậy, văn hóa đã góp phần quan trọng vào vấn đề bảo vệ môi trường và sự phát triển bền vững... Văn hóa truyền thống Việt Nam hướng dẫn và cổ vũ một lối sống hòa hợp, hài hòa với thiên nhiên. Nó đưa ra mô hình ứng xử có văn hóa của con người đối với thiên nhiên, vì sự phát triển bền vững của thế hệ hiện nay và các thế hệ con cháu mai sau. Phát triển tách khỏi cội nguồn dân tộc thì nhất định sẽ lâm vào nguy cơ tha hóa. Thực hiện kinh tế thị trường định hướng XHCN, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước mà xa rời những giá trị văn hóa truyền thống sẽ làm mất đi bản sắc dân tộc, đánh mất bản thân mình, trở thành cái bóng mờ của người khác, của dân tộc khác. Nhận thức sâu sắc giá trị của văn hóa trong quá trình phát triển, Đảng ta xác định tiến hành đồng bộ và gắn kết chặt chẽ ba lĩnh vực: Phát triển kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm, xây dựng, chỉnh đốn Đảng là nhiệm vụ then chốt cùng với việc xây dựng văn hóa, nền tảng tinh thần của xã hội nhằm tạo nên sự phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững của đất nước. Trong đó, nội dung xây dựng văn hóa được xác định: “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, một định hướng quan trọng để đất nước phát triển bền vững. * Tham khảo thêm : Vai trò, vị trí của văn hoá trong phát triển kinh tế - xã hội Phát triển văn hoá trong thời đại ngày nay để phục vụ chiến lược phát triển kinh tế - xã hội cần được nhìn nhận theo một quan điểm mới. Văn hoá đang đóng một vai trò quan trọng chưa từng có trong lịch sử. Sự tiến bộ hay lạc hậu của một cá nhân, phát triển hay trì trệ của dân tộc, thành công hay thất bại của chiến lược phát triển và sự hưng thịnh của quốc gia phụ thuộc rất nhiều vào vấn đề văn hoá đã được nhận thức và sử dụng như thế nào trong phát triển kinh tế - xã hội. Hiện nay, nhiều quốc gia trên thế giới, nhất là các nước phát triển phương Tây, bắt đầu nhận thức lại vai trò và vị trí của văn hoá trong sự phát triển chung của xã hội. Lịch sử phát triển của phương thức công nghiệp hoá cổ điển đã làm nhiều nước phải quan tâm: phương thức này đã dẫn đến sự mất cân đối nghiêm trọng giữa kinh tế và văn hoá, giữa con người với môi trường tự nhiên. Trong giai đoạn này xuất hiện một sự phát triển mất cân đối: hi sinh các giá trị tinh thần và văn hoá để phát triển các giá trị vật chất. Đặc biệt xuất hiện những hậu quả, thảm hoạ do nền văn minh công nghiệp tạo ra như khủng hoảng môi trường sinh thái, lãng phí cạn kiệt tài nguyên, bất bình đẳng xã hội và khoảng cách giàu nghèo giữa các nước tăng lên... đang đè nặng lên nhân loại. Những sản phẩm, thành tựu của khoa học kĩ thuật hiện đại lại thù địch với con người; sản sinh ra chủ nghĩa kinh tế thuần tuý, chủ nghĩa kĩ trị, những học thuyết phi nhân hoá, đồ vật hoá con người. Một hiện tượng đang thu hút sự quan tâm của thế giới là sự vươn lên của những nước công nghiệp mới (NIC) được gọi là các "con rồng châu Á". Nhiều nhà kinh tế phương Tây cho rằng được như vậy là nhờ các nước này đã kết hợp thành công những thành lựu của khoa học công nghệ phương Tây với truyền thống văn hoá của dân tộc mình để tạo ra sự cân đối giữa vàn hoá, xã hội và kinh tế. Vì thế, từ kinh nghiệm của các dân tộc, các nước phát triển cho thấy chúng ta phải xây dựng lại lí thuyết phát triển, thừa nhận “tính nhiều cạnh của sự phát triển” mà chiều cạnh văn hoá là không thể xem nhẹ. Trong đó vấn đề “văn hoá và phát triển” thực chất là nhìn nhận lại quan hệ biện chứng giữa kinh tế và văn hoá theo quan điểm phát triển hiện đại: Hơn ba thập niên qua, trên 90% số nước trên thế giới sau khi giành được độc lập đã thất bại trong chính sách mở cửa để phát triển kinh tế, nguyên nhân là không giải quyết được mối quan hệ giữa các yếu tố nội sinh và ngoại nhập. Loài người đang ở ngưỡng cửa của nền "văn minh trí tuệ", chính văn hoá hiện đại đóng vai trò "phần mềm", còn công nghệ tiên tiến là "phần cứng". Quan điểm hiện đại về sự phát triển đòi hỏi xem văn hoá như một động lực quan trọng nhất của sự phát triển kinh tế - xã hội kinh nghiệm của Việt Nam cho thấy điều đó. Suốt cả thời gian hơn hai phần ba thế kỉ qua, Đảng ta đã khẳng định con người là vốn quí, luôn coi trọng tính đồng bộ giữa kinh tế và vàn hoá. Trong các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, chúng ta đã huy động sức mạnh của văn hoá đế thâm nhập vào quần chúng, biến thành sức mạnh vật chất đánh bại kẻ thù, giải phóng đất nước. Sau Đại hội Đảng lần thứ VI. các nghị quyết và hệ thống chính sách về phát triển nền kinh tế thị trường đã có tác động lớn trong việc giải phóng tiềm năng sáng tạo thúc đẩy sản xuất phát triển. Mặt khác, phải giải quyết nhiệm vụ tăng cường khả năng cạnh tranh kinh tế trên cơ sở bảo tồn và nâng cao các giá trị văn hoá để phát triển đất nước. Văn hoá là yếu tố đồng hành chỉ dẫn chất lượng sống trong các quan hệ của con người với thực tại. Trong giai đoạn hiện nay văn hóa có các vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội: - Văn hóa là nền tảng của sự phát triển. - Văn hóa là mục tiêu của sự phát triển. - Văn hóa là động lực của sự phát triển. - Văn hóa là sự điều tiết của sự phát triển. Tóm lại, quan điểm hiện đại về sự phát triển đòi hỏi xem văn hoá như động lực quan trọng nhất của sự phát triển kinh tế - xã hội tạo điều kiện cho sự phát triển bền vững của đất nước. Thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội mà Đại hội Đảng IX đã đề ra, Đảng ta lại nhấn mạnh sự kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, cùng với huy động mọi nguồn lực trong nước, nâng cao hiệu quả quốc tế... để công nghiệp hóa, hiện đại hóa phát triển đúng hướng. Câu 6: Phân tích nội dung quản lý nhà nước về văn hóa? Liên hệ vào việc thực hiện nghị quyết của Đảng về xây dựng phát triển văn hóa Việt Nam: tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, hiện nay và tương lai? A, Nội dung quản lý nhà nước về văn hóa : a. Xây dựng và ban hành hệ thống pháp luật về văn hóa Đây là nội dung quản lí quan trọng nhất, tốt nhất. Luật pháp phải thực sự là công cụ quản lí nhà nước về văn hoá và công tác tư tưởng. Để thực hiện quản lí nhà nước bằng pháp luật thì nhà nước phải ban hành hệ thống các văn bản pháp luật đối với các loại hoạt động và không ngừng hoàn thiện, bổ xung các văn bản pháp luật phù hợp với xu thế phát triển để phát huy tác dụng của văn hoá tới sự nghiệp xây dựng con người mới, tới sự hình thành nhân cách, nâng cao chất lượng cuộc sống của con người. Trong Hiến pháp 1992 có dành chương III với một số điều khoản đối với sự phát triển và vận hành các hoạt động văn hoá. Tuy nhiên trong thời gian tới cán hoàn thiện các văn bản pháp luật: + Luật về tổ chức, bộ máy quản lí văn hoá như các Hội đồng, Uỷ ban, các Bộ, hoặc từng lĩnh vực hoạt động văn hoá. + Luật về bảo hộ quyền tác giả, bảo vệ quyền lợi, bản sắc văn hoá dân tộc. + Luật về bảo vệ các di sản văn hoá. + Luật về tổ chức quản lí các hoạt động văn hoá, văn nghệ... Việc quản lí nhà nước về văn hoá theo đúng luật sẽ góp phần tích cực vào việc lập lại trật tự kỉ cương trong tình hình văn hoá - xã hội đang có nhiều lộn xộn, cần được khẩn trương giải quyết. b. Xây dựng và hoạch định các chính sách phát triển văn hóa. Các chính sách văn hoá nói riêng, chính sách xã hội nói chung chỉ có ý nghĩa trong điều kiện kinh tế thị trường nhằm điều chỉnh những bất bình đẳng trong vãn hoá do thị trường tạo ra, khích lệ, hỗ trợ cho xu hướng văn hoá có nhiều triển vọng, vì chúng tiêu biểu cho sức mạnh dân tộc, cho định hướng nhu cầu văn hoá của xã hội. Chính sách văn hoá là tổng thể các nguyên tắc hoạt động, các cách làm thiết thực, các phương pháp quản lí hành chính và phương pháp ngân sách của nhà nước dùng làm cơ sở cho các hoạt động văn hoá. Chính sách văn hoá được hình thành như một chỉnh thể trong một quá trình tác động lẫn nhau của ba nhóm cộng đồng không thể đơn phương của một, hai nhóm: + Cộng đồng văn hoá: các nghệ sĩ, nghệ nhân, nhà khoa học, nhà giáo dục, nhà hoạt động văn hoá,... + Cộng đồng công chúng: công dân, tập thể, công chúng hiện thực và công chúng tiềm năng. + Cộng đồng chính trị: các cơ quan Đảng, cơ quan chính quyền ở Trung ương và địa phương. Chính sách văn hoá đòi hỏi phải đáp ứng được mối quan tâm của cả ba nhóm cộng đông, biết rõ các mục tiêu và điều chỉnh các hướng ưu tiên. Văn hoá phát triển hay trì trệ là tuỳ thuộc vào sự tác động lẫn nhau của cả ba nhóm cộng đồng tuỳ thuộc vào cách giải quyết những khác biệt giữa ba nhóm ấy. c. Đầu tư tài Chính cho văn hoá: Ở tất cả các nước trên thế giới, Chính phủ của các nước đều quan tâm thực hiện chế độ cấp phát ngân sách nhà nước cho văn hoá. Lượng tài chính nhà nước cấp theo chu kì cấp thông thường năm sau tăng hơn năm trước theo mức tăng ngân sách. Tuy có sự khác nhau giữa các nước: kiểu cách đầu tư cho văn hoá, đối tượng văn hoá được đầu tư, cơ cấu và tỉ lệ đầu tư cho văn hoá. Cơ cấu ngân sách nhà nước cho văn hoá thường gồm: + Phần ngân sách nhà nước chi cho GD-ĐT. + Phần ngân sách nhà nước chi cho nghệ thuật và những công việc văn hoá. + Phần ngân sách nhà nước chi cho thông tin, báo chí, phát thanh truyền hình. + Phần ngân sách nhà nước chi cho các lĩnh vực khác như tôn giáo, du lịch, thể dục, thể thao. Đầu tư cho hoạt động văn hoá với tư cách là một hoạt động sản xuất cần được lính toán đến hiệu quả đầu tư. Cấp ngân sách cho văn hoá cần kèm theo những qui tắc như bất kì hoạt động tài chính nào khác khi yêu cầu đặt ra là phải đạt tới mục tiêu quốc gia mà Đảng và Nhà nước đã đề ra. d. Củng cố hoàn thiện tổ chức bộ máy quản lý văn hóa từ trung ương đến địa phương. e. Tổ chức đào tạo bồi dưỡng để nâng cao trình độ cho đột ngũ cán bộ quản lý văn hóa các cấp. - Nhà nước cần thực hiện cấp bách hiện nay là tổ chức tăng cường về đào tạo đội ngũ cán bộ, đổi mới phương thức hoạt động của các cơ quan quản lí nhà nước trong lĩnh vực này như một biện pháp quan trọng để đổi mới, nâng cao trình độ quản lí trước yêu cẩu phát triển của sự nghiệp văn hoá. Những hẫng hụt về trình độ của cán bộ quản lí văn hoá hiện nay là khá xa, lại chưa có sự chuẩn bị cần thiết về kiến thức quản lí nên trong hoạt động quản lí không trách khỏi khuynh hướng giản đơn máy móc, áp đặt... Lí luận và thực tiễn quản lí đòi hỏi sự cần thiết phải kết hợp tính ổn định và sự đổi mới cán bộ quản lí ở tất cả các cấp. g. Tăng cường kiểm tra, kiểm soát và thanh tra. Tăng cường kiểm tra, kiểm soát của nhà nước trong lĩnh vực văn hóa là nhiệm vụ quan trọng của quản lí nhà nước. Đặc biệt là hoạt động của các cơ quan kiểm duyệt, thanh tra, do văn hoá có mối quan hệ trực tiếp với chính tả, tác động trực tiếp tới sự hình thành và phát triển nhân cách do xu hướng xã hội hoá văn hoá ngày một mở rộng. Quản lí nhà nước về văn hoá trong bối cách kinh tế - xã hội hiện nay đòi hỏi sử dụng đồng bộ các phương pháp kinh tế, giáo dục, hành chính thích hợp. B, Liên hệ thực hiện nghị quyết của Đảng về xây dựng phát triển văn hóa Việt Nam, tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, hiện nay và tương lai: Những định hướng lớn về văn hóa trong Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng XI là sự tiếp nối các quan điểm của Đảng về xây dựng và phát triển văn hóa. Tháng 7 năm 1998, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương 5 (khoá VIII) ra Nghị quyết về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Toàn bộ tinh thần của Nghị quyết đã làm sáng lên bức tranh của nền văn hoá đất nước trong tương lai. Đó là nền văn hoá với vai trò là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển, gắn với sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH- HĐH) đất nước, gắn với những vấn đề nảy sinh trong xu thế toàn cầu hoá và nền kinh tế thị trường. Cần khẳng định rằng, đó còn là một tầm nhìn rộng và xa của Đảng về sự phát triển bền vững của đất nước, ít nhất là trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước. Đến Đại hội IX, những tư tưởng chủ yếu của Đảng về phát triển văn hoá tiếp tục được thể hiện trên cơ sở thực tiễn thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khoá VIII); nhấn mạnh vị trí, vai trò của văn hoá trong lịch sử phát triển của dân tộc ta; khẳng định sức sống lâu bền của những quan điểm, tư tưởng nêu trong nghị quyết Trung ương V (khóa VIII) trong đời sống xã hội, trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Về ý nghĩa “văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội”, Nghị quyết nhấn mạnh đó là tầm cao, chiều sâu của sự phát triển của dân tộc, khẳng định và làm rõ vị trí của văn hoá trong đời sống dân tộc, trong cách mạng xã hội chủ nghĩa. Tại hội nghị Trung ương 10 (khoá IX), Ban Chấp hành Trung ương đã tổ chức kiểm điểm 5 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khoá VIII) và ra kết luận tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hoá làm nền tảng tinh thần xã hội, gắn kết và đồng bộ với phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt. Đại hội X, Đảng xác định tiếp tục phát triển sâu rộng, nâng cao chất lượng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Gắn kết chặt chẽ hơn với phát triển kinh tế xã hội. Làm cho văn hoá thấm sâu và mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Xây dựng và hoàn thiện giá trị, nhân cách con người Việt Nam. Bảo vệ và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập kinh tế quốc tế. Bồi dưỡng các giá trị văn hoá trong thanh niên, sinh viên, học sinh, đặc biệt là lý tưởng sống, lối sống, năng lực trí tuệ, đạo đức và bản lĩnh văn hoá Việt Nam. Đầu tư cho việc bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử cách mạng, kháng chiến, di sản văn hoá vật thể, phi vật thể. Kết hợp hài hoà giữa bảo tồn, phát huy với kế thừa và phát triển, giữ gìn di tích với phát triển kinh tế du lịch, tinh thần tự nguyện, tính tự quản của nhân dân trong xây dựng văn hoá. Đa dạng hoá các hoạt động của phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”. Xây dựng và phát triển chương trình giáo dục văn hoá, thẩm mỹ, nếp sống văn hoá hiện đại trong nhân dân. Phát huy tiềm năng, khuyến khích sáng tạo văn học, nghệ thuật, tạo ra những tác phẩm có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật. Đồng thời tăng cường quản lý nhà nước về văn hoá. Xây dựng cơ chế chính sách, chế tài ổn định. Tăng cường mở rộng giao lưu, hợp tác quốc tế về văn hoá. Chống sự xâm nhập văn hoá độc hại, lai căng, phản động. Xây dựng, nâng cấp đồng bộ hệ thống thiết chế văn hoá. Tạo điều kiện cho các lĩnh vực xuất bản, thông tin đại chúng phát triển. Nâng cao chất lượng tư tưởng văn hoá, hiện đại về mô hình, cơ cấu, cơ sở vật chất kỹ thuật. Xây dựng cơ chế quản lý khoa học, phù hợp. Đảm bảo tự do, dân chủ cho những hoạt động sáng tạo văn hoá, văn học, nghệ thuật. Đi đôi với phát huy trách nhiệm công dân của văn nghệ sỹ. Đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, cơ cấu tổ chức của các hội văn học- nghệ thuật từ trung ương đến địa phương. Đại hội XI, nhiệm vụ chăm lo phát triển văn hóa được đúc kết cô đọng hơn, cụ thể hơn, tập trung vào 4 nội dung quan trọng: Một là: Củng cố và tiếp tục xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, phong phú, đa dạng; tiếp tục đẩy mạnh xây dựng nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội…; triển khai cuộc vận động xây dựng gia đình Việt Nam góp phần giữ gìn và phát triển những giá trị truyền thống của văn hóa, còn người Việt Nam, nuôi dưỡng giáo dục thế hệ trẻ. Hai là: Phát triển sự nghiệp văn học, nghệ thuật; bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hóa truyền thống, cách mạng. Theo đó, tiếp tục phát triển nền văn học, nghệ thuật Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, giàu chất nhân văn, dân chủ, vươn lên hiện đại, phản ánh chân thật, sâu sắc đời sống, lịch sử dân tộc và công cuộc đổi mới đất nước; cổ vũ, khẳng định cái đúng, cái đẹp, đồng thời lên án cái xấu, cái ác. Hoàn thiện và thực hiện nghiêm túc các quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ, về bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của dân tộc. Xây dựng và thực hiện các chính sách, chế độ đào tạo, bồi dưỡng, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần, tạo điều kiện để đội ngũ những người hoạt động văn hóa, văn học, nghệ thuật sáng tạo nhiều tác phẩm có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật. Ba là: Chú trọng phát huy mạnh mẽ chức năng thông tin, giáo dục, tổ chức và phản biện xã hội của các phương tiện thông tin đại chúng vì lợi ích của nhân dân và đất nước. Tập trung đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ hoạt động báo chí, xuất bản vững vàng về chính trị, tư tưởng, nghiệp vụ và có năng lực đáp ứng tốt yêu cầu của thời kỳ mới. Bốn là: Đổi mới, tăng cường việc giới thiệu, truyền bá văn hóa, văn học, nghệ thuật, đất nước, con người Việt Nam với thế giới. Xây dựng một số trung tâm văn hóa Việt Nam ở nước ngoài và trung tâm dịch thuật, quảng bá văn hóa Việt Nam ra nước ngoài. Tiếp thu những kinh nghiệm tốt về phát triển văn hóa của các nước, giới thiệu các tác phẩm văn học, nghệ thuật đặc sắc của nước ngoài với công chúng Việt Nam. Ngăn chặn, đẩy lùi, vô hiệu hóa sự xâm nhập và tác hại của các sản phẩm đồi trụy, phản động từ nước ngoài vào nước ta; bồi dưỡng và nâng cao sức đề kháng của công chúng nhất là thế hệ trẻ. Như vậy, đến Đại hội XI, các quan điểm của Đảng về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam theo mục tiêu tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc tiếp tục được khẳng định. Nhưng từ thực tiễn đời sống văn hóa của đất nước những năm qua, đặc biệt là trong xu thế hội nhập, có sự tác động nhiều chiều của quá trình toàn cầu hóa, của nền kinh tế thị trường…, Đảng ta đã xác định bốn đầu việc cần được cấp ủy đảng, chính quyền các cấp và nhất là ngành văn hóa coi trọng, tập trung chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhằm tiếp tục xây dựng nền tảng tinh thần của xã hội. Trong đó, việc xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, phong phú, đa dạng có ý nghĩa rất quan trọng, chi phối và gắn bó hữu cơ với ba công việc sau. Cần nhận thức đầy đủ rằng, xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh cũng chính là góp phần tạo ra môi trường chính trị- xã hội ổn định, an toàn và bền vững trên cơ sở đời sống kinh tế được đảm bảo. Quá trình xây dựng môi trường văn hóa phải chú trọng xây dựng đời sống văn hoá, vì đó là bước đi ban đầu của sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hoá. Xây dựng đời sống văn hóa cần phải được tổ chức một cách bài bản, có chủ trương, chiến lược và từ trong từng gia đình Việt Nam, trong thôn, bản, khu phố, trong các tổ chức đoàn thể…, không chỉ là vài cuộc liên hoan văn nghệ quần chúng theo định kỳ hay chào mừng, cổ vũ một vài ngày kỷ niệm, sự kiện nào đó. Đối với văn học, nghệ thuật hay bảo tồn phát huy các di sản văn hóa cũng phải có mục tiêu cụ thể, nhằm đạt tới kết quả cuối cùng là có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao, thực sự phát huy chức năng giáo dục, định hướng thẩm mỹ cho công chúng, nâng cao ý thức dân tộc, trách nhiệm của mỗi người với những giá trị đó. Các cơ quan thông tin, truyền thông đặc biệt là báo chí, xuất bản là những công cụ trực tiếp, đắc lực, có trách nhiệm tuyên truyền cho quá trình chăm lo phát triển văn hóa của đất nước trên cơ sở vì mục đích, lợi ích của nhân dân và đất nước. Đương nhiên, đội ngũ đó phải được quan tâm, chăm lo đào tạo, rèn luyện chính trị, tư tưởng, có năng lực chuyên môn đồng thời phải có đạo đức nghề nghiệp, trách nhiệm công dân, nếu không sẽ không thể đáp ứng được yêu cầu thông tin, giáo dục, tổ chức và phản biện xã hội phù hợp với môi trường văn hóa lành mạnh theo quan điểm của Đảng. Công việc đổi mới, tăng cường việc giới thiệu, truyền bá văn hóa, văn học, nghệ thuật, đất nước, con người Việt Nam với thế giới…thực chất cũng là nhằm xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, đa dạng, phong phú. Vì văn hóa Việt nam muốn phát triển không thể không có lộ trình, kế hoạch cụ thể để quảng bá ra nước ngoài; muốn quảng bá phải có thiết chế, phải có đầu tư về con người và cơ sở vật chất cho nhiệm vụ này (một vài trung tâm văn hóa của Việt Nam ở nước ngoài như hiện nay là không thể hoàn thành được). Đồng thời chọn lọc, giới thiệu những giá trị văn hóa của bè bạn thế giới vào nước ta cũng là công việc cần được quan tâm để làm đẹp thêm bức tranh văn hóa nước nhà. Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, phong phú, đa dạng theo quan điểm của Đảng nêu trên, là sự kiên định (kế thừa, bổ sung, phát triển) quan điểm xây dựng và phát triển văn hóa của Đảng trong hơn nửa thể kỷ qua, đưa quan điểm đó trở thành hiện thực trong đời sống văn hóa của dân tộc sẽ tạo ra sức đề kháng khỏe mạnh trong cơ thể văn hóa Việt Nam. Câu 7 : Phân tích yêu cầu về nguồn nhân lực? Liên hệ yêu cầu nguồn nhân lực Việt Nam hiện nay? a) Yêu cầu về nguồn nhân lực: Gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH. Có đạo đức trong sáng Có ý chí kiên cường xây dựng và bảo vệ tổ quốc, thực hiện sự nghiệp CNH-HĐH đất nước. Giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc. Phát huy tiềm năng của dân tộc và con người Việt Nam. Có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực của cá nhân. Có năng lực tiếp thu tinh hoa, văn hóa nhân loại. Làm chủ tri thức khoa học công nghệ hiện đại. Có tư duy sáng tạo Có kỹ năng thực hành giỏi. Có tác phong công nghiệp Có tính tổ chức, kỷ luật. Có sức khỏe. Liên hệ: Dù ở thời đại nào, nguồn nhân lực cũng luôn là yếu tố quan trọng nhất quyết định sức mạnh của một quốc gia. Bởi chúng ta biết rằng mọi của cải vật chất đều được làm nên từ bàn tay và trí óc của con người. Việt Nam chúng ta đang có nguồn nhân lực dồi dào với dân số cả nước gần 86 triệu người (Tính đến ngày ngày 1/4/2009, dân số của Việt Nam: 85.789.573 người), nước đông dân thứ 13 trên thế giới và thứ 3 trong khu vực. Trong đó số người trong độ tuổi lao động tăng nhanh và chiếm một tỉ lệ cao khoảng 67% dân số cả nước Cơ cấu Dân số vàng ở nước ta bắt đầu đầu xuất hiện từ năm 2010 và kết thúc vào năm 2040, kéo dài trong khoảng 30 năm. Rõ ràng Việt Nam đang có thế mạnh lớn về nguồn lực lao động nhưng tại sao chúng ta vẫn đang gặp nhiều khó khăn trong việc thúc đẩy kinh tế đi lên? Có nhiều nguyên nhân lí giải cho vấn đề này, trong đó chất lượng nguồn nhân lực hiện nay của nước ta được xem là nguyên nhân mấu chốt.   Như chúng ta đã biết, trong gần 86 triệu người ở Việt Nam thì nông dân chiếm gần khoảng 73%] dân số cả nước. Điều này cho thấy nông dân vẫn là lực lượng lao động xã hội chiếm tỉ lệ cao nhất. Nông dân ta bao đời nay vẫn lấy nghề trồng lúa là nghề chính. Họ vẫn đang sản xuất một cách tự phát, manh mún. Họ vẫn cứ nghĩ rằng trồng lúa là nghề dễ nhất, không cần học cũng làm được, thế là cứ từ đời này nối tiếp đời kia họ tự trồng như vậy. Nhìn vào thực tế sản xuất của nông dân ta thấy rằng dù đã mấy nghìn năm phát triển xã hội nhưng cách trồng lúa của người Việt hôm nay cũng chưa tiến bộ hơn cách trồng lúa của người Việt xưa là mấy, vẫn còn tồn tại cái cảnh “ con trâu đi trước cái cày theo sau”. Mặc dù bây giờ đã có sự liên kết nhà khoa học với  nhà nông nhưng cũng chưa tạo đựơc những đột phá đem lại hiệu quả. Hiện nay, nông dân đã mở ra nhiều ngành nghề để tạo việc làm và thu nhập nhưng hiệu quả kinh tế vẫn chưa cao nguyên nhân là còn thiếu áp dụng các khoa học kĩ thuật vào trong sản xuất vì vẫn nặng với cái kiểu tư duy “nghĩ sao làm vậy”. Rõ ràng nguồn lực nông dân dồi dào nhưng chất lượng vẫn còn yếu kém . * Về nguồn nhân lực công nhân thì hiện nay số lượng giai cấp công nhân Việt Nam có khoảng 5 triệu người, chiếm 6% dân số cả nước.Như vậy lực lượng công nhân Việt Nam còn quá ít. Đã vậy công nhân có tay nghề cao lại chiếm tỷ lệ thấp so với đội  ngũ công nhân nói chung. Số công nhân có trình độ văn hóa, tay nghề, kĩ thuật rất ít. Theo thống kê công nhân có trình độ cao đẳng, đại học ở nước ta chiếm khoảng 3,3% đội ngũ công nhân nói chung. Tỉ lệ này khiến chúng ta phải suy nghĩ. Chính vì trình độ văn hoá tay nghề thấp nên đa số công nhân không đáp ứng tốt yêu cầu công việc. Điều này dẫn đến sự mất cân đối về lao động ở các doanh nghiệp. Doanh nghiệp không thiếu người nhưng lại thiếu những công nhân có tay nghề để đảm bảo những khâu kĩ thuật quan trọng trong dây chuyền sản xuất. Hệ quả kéo theo của vấn đề này là đồng lương công nhân bị thấp đi, đời sống không được đảm bảo, địa vị công nhân trong đời sống xã hội cũng không cao. Với tình hình đó nguồn lực công nhân chưa thể đóng vai trò chủ đạo trong sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước.  Việt Nam đã và đang bước vào hội nhập Thế giới, từng bước tiến tới chiếm lĩnh khoa học công nghệ cao vì thế đòi hỏi một lực lượng đông đảo nhân lực có trình độ cao, có khả năng làm việc trong môi trường công nghệ và cạnh tranh. Đặc biệt với một số ngành đặc thù như năng lượng nguyên tử, công nghệ thông tin lại càng đòi hỏi nhân lực đạt đến trình độ quốc tế hoá. Bên cạnh đó một số ngành mũi nhọn như ngân hàng tài chính, du lịch cũng yêu cầu một đội ngũ đủ khả năng thích ứng với mọi biến động của thị trường trong nước và thế giới…Có thể nói rằng ở lĩnh vực nào, nông nghiệp, công nghiệp hay dịch vụ… chúng ta đều đang khát lao động có trình độ cao. Nhưng thực tế đáp ứng được bao nhiêu? Như đã phân tích ở trên, lực lượng nông dân đang thiếu khoa học kĩ thuật, sản xuất manh mún; lực lượng công nhân trình độ thấp, vậy còn lực lượng trí thức thì sao?  Việt Nam những năm gần đây đội ngũ trí thức tăng nhanh, chỉ tính riêng số sinh viên cũng đã cho thấy sự tăng nhanh vượt bậc. Năm 2003-2004 tổng số sinh viên đại học và cao đẳng là 1.131.030 sinh viên đến năm 2007- 2008 tăng lên 1.603.484 sinh viên. Năm 2008 tổng số sinh viên ra trường là 233.966 trong đó sinh viên tốt nghiệp đại học là 152.272; sinh viên tốt nghiệp cao đẳng là 81.694. Số trí thức có trình độ thạc sĩ, tiến sĩ cũng tăng nhanh.Theo thống kê cả nuớc đến 2008 có hơn 14 nghìn tiến sĩ và tiến sĩ khoa học và đang đặt mục tiêu trong 10 năm tới sẽ có 20000 tiến sĩ. Năm 2008 nước ta có 275 trường Trung cấp chuyên nghiệp, 209 trường cao đẳng, 160 trường Đại học và có tới 27.900 trường phổ thông, 226 trường dân tộc nội trú Nhìn vào những con số này cho thấy lực lượng trí thức và công chức thực sự là một nguồn lực quan trọng đối với sự phát triển kinh tế đất nước. Nhưng thực tế vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề. Hàng năm lượng sinh viên ra trường lớn nhưng số sinh viên có việc làm lại ít. Theo thống kê có đến 63% sinh viên ra trường không có việc làm, số có việc làm thì cũng có người làm việc không đúng ngành được học. Thêm vào đó là một số đơn vị nhận người vào làm phải mất 1-2 năm đào tạo lại. Phải chăng lao động đã qua đào tạo còn nhiều bất cập so với yêu cầu của thị trường lao động?  Bài toán về nguồn nhân lực, việc làm hiện nay là bài toán khó và cũng không thể một sớm một chiều mà chúng ta giải quyết ngay được.Để làm được điều này cần phải đồng bộ ở nhiều phương diện: Đơn vị đào tạo, người lao động, đơn vị sử dụng lao động… và còn cần tới một cơ chế, một sự hỗ trợ lớn từ nhà nuớc. Câu 8: Phân tích đặc điểm nguồn lao động Việt Nam hiện nay? Liên hệ với yêu cầu thị trường lao động, nguồn nhân lực Việt Nam hiện nay được xác định phát triển như thế nào? Bài làm 1. Đặc điểm nguồn lao động ở nước ta Số lượng lao động dồi dào và tăng nhanh Việt Nam chúng ta đang có nguồn nhân lực dồi dào với dân số cả nước gần 86 triệu người (Tính đến ngày ngày 1/4/2009, dân số của Việt Nam: 85.789.573 người), nước đông dân thứ 13 trên thế giới và thứ 3 trong khu vực. Mỗi năm nước ta có thêm khoảng hơn 1,2 triệu lao động mới, số người trong độ tuổi lao động chiếm một tỉ lệ cao khoảng 67% dân số cả nước. Nguồn lao động trẻ Năm 2010, tỷ lệ người trong độ tuổi lao động là 67%, tỷ lệ người dưới độ tuổi lao động là 24%, tỷ lệ người trên tuổi lao động là 9%. Cụ thể nhóm lao động trẻ (15-35 tuổi) >50%. Hạn chế về thể lực và đào tạo Thể lực của người Việt Nam nhìn chung còn thấp kém, phần lớn chưa đáp ứng được yêu cầu làm việc của XH công nghiệp hiện đại và các chuẩn quốc tế. Theo đánh giá chiều cao cân nặng, sức mạnh, sức bền của thanh niên VN kém hơn các nước trong khu vực và chỉ tương đương về sức nhanh, sự khéo léo và mềm dẻo. Phần lớn lao động VN chưa qua đào tạo, tỷ lệ lao động tốt nghiệp trung học phổ thông có thấp. Năm 2010 lao chưa qua đào tạo chiếm 70%.Hơn nữa, trình độ chuyên môn và tay nghề của lao động VN chưa đáp ứng yêu cầu của phát triển KT-XH. Lao động ở nước ta phân bố không đều giữa các vùng miền và ngành nghề. . Năm 2010 trong hơn 86 triệu người ở Việt Nam thì nông dân chiếm gần khoảng 70% dân số cả nước. Tỷ lệ lao động nông thôn năm 2005 chiếm 57,5% có xu hướng giảm còn 51,9% (năm 2009) nhưng LĐ nông thôn vẫn chiếm tỷ lệ cao. Điều này cho thấy nền kinh tế nông nghiệp vẫn tồn tại sâu rộng ở nước ta. Thị trường lao động chưa hoàn hảo. Thu nhập của lao động VN còn rất thấp từ 700 nghìn – 1,5 triệu đồng 1 tháng, số tiền đó không kích thích người lao động làm việc và sáng tạo. Mức lương của người lao động mới chỉ đáp ứng được việc ăn, mặc, ở,.. hầu như không ai dám nghĩ tới nhu cầu giải trí, càng khó tích lũy hoặc đầu tư học tập nâng cao trình độ. Cơ chế vận hành của đồng lương chưa theo kịp sự thay đổi của nền kinh tế đang phát triển nóng. Tỷ lệ lao động không có việc làm cao Năm 2008 tỷ lệ thất nghiệp của Việt Nam hiện nay là 4,65%, tăng 0,01% so với năm 2007. Trong khi đó, tỷ lệ lao động thiếu việc làm hiện nay là 5,1%, tăng 0,2% so với năm 2007. Đáng chú ý, tỷ lệ thiếu việc làm nông thôn lên tới 6,1%, trong khi tỷ lệ này ở khu vực thành thị là 2,3%. Thái độ, tác phong người lao động chưa cao Hàng năm ở VN có khoảng hơn 1 triệu người có việc làm mới và khoảng 1,4 triệu người thay đổi chỗ làm việc mới hoặc thay đổi chỗ làm việc, như vậy khoảng 6% lao động thay đổi chỗ làm việc mới hoặc thay đổi chỗ làm việc. Lao động VN thực hiện kỷ luật còn yếu, tùy tiện trong giờ giấc và hành vi, tinh thần hợp tác, kỹ năng làm việc theo nhóm còn thấp,.. 2. Yêu cầu thị trường lao động, nguồn nhân lực Việt Nam hiện nay được xác định phát triển là: - Đào tạo người lao động có kiến thức cơ bản, làm chủ kỹ năng, nghề nghiệp, quan tâm hiệu quả thiết thực, nhạy cảm với cái mới, có ý thức vươn lên về KHCN. - Tiến hành phổ cập giáo dục trung học cơ sở trong cả nước phần lớn thanh thiếu niên trong độ tuổi ở thành thị và nông thôn được học hết trung học phổ thông, THCN, đào tạo nghề. - Mở rộng đào tạo công nhân kỹ thuật, kỹ thuật viên và nhân viên nghiệp vụ theo nhiều cấp trình độ phát triển và nâng cao chất lượng đào tạo ĐH và sau ĐH. - Coi trọng đào tạo đội ngũ công nhân tay nghề cao, kỹ sư thực hành và các nhà kinh doanh giỏi, ưu tiên đào tạo nhân lực phục vụ phát triển nông nghiệp và nông thôn, xuất khẩu lao động một số nghành mũi nhọn. - Đổi mới chương trình đào tạo ĐH, THCN, dạy nghề theo hướng thiết thực hiện đại. - Đổi mới chính sách đào tạo, sử dụng và đãi ngộ tri thức, trọng dụng và tôn vinh nhân tài , kể cả người Việt Nam ở nước ngoài. - Nâng tỉ lệ lao động được đào tạo nghề lên khoảng 40%. - Nâng lên đáng kể chỉ số HDI của nước ta. - Thực hiện lộ trình tăng lương cơ bản sao cho đáp ứng đầy đủ nhu cầu của người lao động. - Trong các năm tới dự tính thu hút và tạo việc làm thêm khoảng 1 triệu lao động trong các nghành kinh tế xã hội, bình quân mỗi năm khoảng trên 1,5 triệu người có việc làm mới. - Để giải quyết việc làm cho người lao động phải tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho tất cả các thành phần kinh tế, đầu tư phát triển rộng rãi các cơ sở sản xuất kinh doanh, tạo nhiều việc làm. - Đẩy mạnh xuất khẩu lao động, xây dựng và thực hiện đồng bộ chặt chẽ cơ chế chính sách về nguồn lao động, đưa lao động ra nước ngoài. - Nâng tỉ lệ thời gian sử dụng lao động ở nông thôn lên khoảng 80%, giảm tỉ lệ thất nghiệp ở thành thị dưới 5%. - Từng bước mở rộng hệ thống bảo hiểm xã hội và an ninh xã hội, tiến tới áp dụng chế độ BHXH cho mọi người lao động, mọi tầng lớp nhân dân. - Tăng cường kiểm tra, giám sát môi trường áp dụng các công nghệ và quy trình sản xuất chất thải ít gây ô nhiễm môi trường, chú trọng đảm bảo an toàn xã hội. Câu 9: Nêu các quan điểm phát triển nguồn nhân lực Việt Nam? Nội dung quản lý nhà nước về lao động và nguồn nhân lực? A, Các quan điểm phát triển nguồn nhân lực Việt Nam 1) Nâng cao hơn nữa đến chất lượng con người và chất lượng cuộc sống. Chất lượng con người trưeớc hết phải tính đến chất lượng vấn đề sinh đẻ: giảm tỉ lệ sinh, thực hiện kế hoạch hóa đồng bộ... 2) Có chính sách sử dụng nguồn nhân lực cho đúng, có chính sách đúng đắn đối với việc sử dụng nhân lực tri thức và trọng dụng nhân tài. 3) Cần có sự nghiên cứu, tổng kết thường kỳ về nguồn nhân lực Việt Nam. 4) Đào tạo nguồn nhân lực có kiến thức cơ bản, làm chủ kĩ năng nghề nghiệp; quan tâm đến yếu tố hiệu quả thiết thực có ý thức vươn lên về KH-CN. 5) Tiến hành phổ cập giáo dục THCS trong cả nước. 6) Mở rộng đào tạo công nhân kỹ thuật, kỹ thuật viên và nhân viên nghiệp vụ theo nhiều cấp trình độ, phát triển và nâng cao chất lượng đào tạo ĐH và sau ĐH. 7) Coi trọng đào tạo đội ngũ công nhân tay nghề cao, kĩ sư thực hành và các nhà kinh doanh giỏi... 8) Đổi mới chính sách đào tạo, sử dụng và đãi ngộ tri thức, trọng dụng và tôn vinh nhân tài, kể cả người Việt Nam ở nước ngoài. 9) Nâng tỉ lệ người được đào tạo nghề lên khoảng 40%. 10) Nâng lên đáng kể chỉ số HDI của nước ta. 11) Đổi mới chương trình đào tạo đại học, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề theo hướng thiết thực và hiện đại. Phải cơ cấu một cách hợp lý việc đào tạo nguồn nhân lực Coi trọng đào tạo đội ngũ công nhân tay nghề cao, kỹ sư thực hành và nhà kinh doanh giỏi. Ưu tiên đào tạo nhân lực phục vụ phát triển nông nghiệp và nông thôn, miền núi, xuất khẩu lao động, một số ngành mũi nhọn. Cần thiết kế các chương trình mục tiêu quốc gia và tập trung các nguồn lực nhằm thực hiện tốt các chương trình đó. Chính phủ cần chỉ đạo các bộ, ngành và địa phương xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển nguồn lực trong tổng thể quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, địa phương. B, Nội dung quản lý nhà nước về lao động và nguồn nhân lực Chương XV: Điều 259-Luật Lao động 2011 quy định: Nội dung quản lý nhà nước về lao động. Quản lý Nhà nước về lao động bao gồm những nội dung chủ yếu sau đây: 1. Nắm cung cầu và sự biến động cung cầu lao động làm cơ sở để quyết định chính sách quốc gia, quy hoạch, kế hoạch về nguồn nhân lực, phân bố và sử dụng lao động toàn xã hội. 2. Ban hành và hướng dẫn thi hành các văn bản pháp luật lao động. 3. Xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình quốc gia về việc làm, di dân xây dựng các vùng kinh tế mới, đưa người đi làm việc ở nước ngoài. 4. Quyết định các chính sách về tiền lương, bảo hiểm xã hội, an toàn lao động, vệ sinh lao động và các chính sách khác về lao động và xã hội; về xây dựng mối quan hệ lao động trong các doanh nghiệp. 5. Tổ chức và tiến hành nghiên cứu khoa học về lao động, thống kê, thông tin về lao động và thị trường lao động, về mức sống, thu nhập của người lao động. 6. Thanh tra, kiểm tra việc thi hành pháp luật lao động và xử lý các vi phạm pháp luật lao động, giải quyết các tranh chấp lao động theo quy định của Bộ luật này. 7. Mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế với nước ngoài và các tổ chức quốc tế trong lĩnh vực lao động.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docĐề cương ôn tập quản lý nhà nước về kinh tế xã hội.doc