Chuyên đề Lịch sử thuế Việt Nam

Tuy nhiên, được sự quan tâm, chỉ đạo của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Bộ Tài chính, sự phối hợp chặt chẽ của các ngành, các cấp; sự nỗ lực khắc phục khó khăn để phát triển sản xuất kinh doanh và nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật thuế của đại bộ phận các tổ chức, cá nhân; sự nỗ lực phấn đấu của cán bộ, công chức ngành thuế, về cơ bản ngành Thuế đã hoàn thành các mục tiêu đã đề ra

doc80 trang | Chia sẻ: hao_hao | Ngày: 19/06/2014 | Lượt xem: 1192 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Chuyên đề Lịch sử thuế Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
hai khâu công tác lớn là tuyên truyền, hướng dẫn, cung cấp dịch vụ hỗ trợ đối tượng nộp thuế và thanh tra, kiểm tra (bao gồm cả thanh tra đối tượng nộp thuế và thanh tra nội bộ ngành thuế) để tổ chức lại bộ máy quản lí thuế phù hợp với cơ chế mới theo hướng tăng cường và chuyên môn hoá cán bộ cho các khâu này. Áp dụng, phổ biến công nghệ quản lý trên máy tính đồng bộ với mở rộng cơ chế tự tính, tự khai, tự nộp thuế. Xây dựng phần mềm cho các quy trình quản lý thuế, từ việc quản lý cấp mã số thuế, quản lý hoá đơn, theo dõi kê khai nộp thuế,… đến miễn, giảm thuế, hoàn thuế, theo dõi nợ đọng, kiểm tra cưỡng chế thuế, bồi thường thiệt hại cho đối tượng nộp thuế,…    b. Về cải tiến việc đăng ký cấp mã số thuế Trước đây, doanh nghiệp phải đăng ký cấp mã số tại 2 nơi: cơ quan Thuế cấp mã số thuế, cơ quan Hải quan cấp mã số xuất, nhập khẩu, mỗi nơi mất gần 30 ngày; nay thống nhất áp dụng chung một mã số thuế cho cả hoạt động kinh doanh trong nước và hoạt động xuất, nhập khẩu, doanh nghiệp chỉ đăng ký làm thủ tục tại một nơi: cơ quan Thuế cấp mã số và truyền qua mạng cho cơ quan Hải quan nên thời gian làm thủ tục được rút ngắn xuống còn 10 - 15 ngày (ở các thành phố lớn giảm xuống còn 8 ngày). c. Thực hiện đơn giản hoá thủ tục, hồ sơ trong các khâu mua hoá đơn Trước đây mỗi lần mua hoá đơn, doanh nghiệp phải kê khai nhiều loại giấy tờ rất phức tạp, kể cả phải vẽ sơ đồ địa điểm kinh doanh. Nay quy đinh doanh nghiệp được cấp mã số thuế là được mua ngay hoá đơn lần đầu; các lần sau, doanh nghiệp chỉ cần xuất trình sổ mua hoá đơn lần trước là được mua hoá đơn. Khuyến khích doanh nghiệp sử dụng hoá đơn tự in; đồng thời phân cấp cho các cục Thuế địa phương xem xét, chấp thuận việc đăng ký sử dụng hoá đơn của doanh nghiệp tự in, đã giảm bớt được nhiều phiền hà cho doanh nghiệp (trước đây do Tổng cục Thuế xét duyệt). d. Cải tiến các tờ khai để tạo thuận lợi cho doanh nghiệp Tờ khai thuế trước đây quy định rất đơn giản, nhưng lại yêu cầu doanh nghiệp phải cung cấp khá nhiều các báo cáo và biểu mẫu có liên quan; nay quy định trong tờ khai thuế có đầy đủ các chỉ tiêu theo yêu cầu của công tác quản lý thuế, doanh nghiệp chỉ phải điền vào các chỉ tiêu có liên quan mà trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có phát sinh, như vậy vừa đảm bảo đầy đủ thông tin theo yêu cầu của cơ quan Thuế, vừa tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp dễ kê khai.    e. Bỏ một số thủ tục, giảm được thời gian và nhiều loại giấy tờ trong miễn, giảm thuế, hoàn thuế Đa số các trường hợp được miễn thuế, giảm thuế, cơ quan Thuế không cần thủ tục ban hành quyết định miễn, giảm thuế, để doanh nghiệp chủ động xác định số thuế được ưu đãi khi quyết toán thuế, tránh được thủ tục phiền hà của cơ chế “xin - cho”. Quy định cụ thể thời hạn hoàn thuế GTGT đối với dự án ODA giảm xuống còn không quá 3 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, các trường hợp không quá 15 ngày, hồ sơ hoàn thuế không cần phải phô-tô-copy hoá đơn mua, bán hàng, rà soát phân loại đối tượng nộp thuế để mở rộng diện áp dụng cơ chế hoàn thuế trước, kiểm tra sau đối với các doanh nghiệp chấp hành tốt pháp luật thuế. Điều kiện được hoàn thuế đối với xuất khẩu cũng được quy định rõ là phải có hợp đồng, tờ khai hải quan, hoá đơn bán hàng và phải thanh toán qua ngân hàng. Đồng thời, cũng đã hướng dẫn cụ thuế đối với các trường hợp bán hàng để trả nợ, thanh toán khấu trừ công nợ theo đúng luật định và phù hợp với thông lệ quốc tế. f. Sửa đổi các quy định về quyết toán thuế tạo thuận lợi cho đối tượng Thời hạn doanh nghiệp phải nộp quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp được kéo dài từ 60 ngày lên 90 ngày sau khi hết năm; việc kê khai quyết toán giá trị gia tăng cũng đã được cải tiến: Trước đây quy định quyết toán thuế GTGT cả năm yêu cầu doanh nghiệp phải kê khai, lập báo cáo quyết toán thuế 12 tháng; Nay quy định lấy tờ khai thuế tháng 12 (trong đó đã có số luỹ kế của 12 tháng) để làm quyết toán số thuế giá trị gia tăng phải nộp cả năm để gảim bớt phiền hà cho doanh nghiệp. g. Đổi mới quy trình quản lý theo nguyên tắc một cửa, chuyên môn hoá cao Ngành Thuế đã bỏ chế độ chuyên quản khép kín, chuyển sang quản lý theo chức năng, thực hiện quy trình quản lý thuế tách 3 bộ phận từ hướng dẫn kê khai, đôn đốc thu nộp đến thanh tra, kiểm tra để tăng cường giám sát lẫn nhau; Ngành Hải quan tổ chức dây chuyền thủ tục hải quan: đối với hàng nhập khẩu theo hợp đồng thương mại trước đây phải qua 4 khâu thủ tục, nay giảm xuống còn 3 khâu, hàng xuất khẩu còn 2 khâu; mỗi khâu thủ tục trước đây cần 2 - 3 người đảm nhiệm, nay chỉ cần 1 người; thời gian thông quan trước đây mất 1 - 3 ngày, nay chỉ còn từ 1 đến 2 giờ đối với lô hàng được miễn. h. Thay đổi từ cơ chế “tiền kiểm”, sang “hậu kiểm” Thực hiện quy chế phối hợp công tác giữa các cơ quan Thuế - Hải quan – Kho bạc Nhà nước trong quản lý thu thuế, hoàn thuế, cung cấp dữ liệu thông tin phục vụ cho thanh tra, kiểm tra để bãi bỏ một số khâu giám sát chồng chéo. Ngành Thuế áp dụng thí điểm cơ chế tự tính, tự khai, tự nộp thuế, chỉ kiểm tra doanh nghiệp khi có chương trình và quyết định kiểm tra quyết toán. Ngành Hải quan triển khi công tác kiểm tra sau thông qua trên cơ sở khai thác hồ sơ, số liệu, thông tin sẵn có tại cơ quan Hải quan và các cơ quan liên quan, giảm bớt việc kiểm tra tại khâu trước, sẵn có tại cơ quan Hải quan và các cơ quan liên quan, giảm bớt việc kiểm tra tại khâu trước, thực hiện kiểm tra có trọng điểm, kiểm tra xác suất, mở rộng diện miễn kiểm tra. Qua thống kê cho thấy trung bình tỷ lệ miễn kiểm tra đối với hàng xuất khẩu là 57,1%, hàng nhập khẩu là 16,9%; tỷ lệ kiểm tra xác suất đối với hàng XK là 28,4%, hàng NK là 50,4%, ... i. Đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin và kỹ thuật hiện đại vào công tác quản lý như: Sử dụng hệ thống mạng máy tính, thiết lập cơ sở dữ liệu thông tin về đối tượng nộp thuế, thông tin về gia, quản lý hàng gia công, ... để giải quyết công việc nhanh hơn, hạn chế được sự nhầm lẫn trong cưỡng chế nợ thuế. Thí điểm khai hải quan điện tử tại các địa bàn trọng điểm; thí điểm thông quan điểm tử đối dầu thô xuất khẩu, hàng hoá xuất nhập khẩu qua đường bưu điện, làm thủ tục đối với tàu biển xuất, nhập cảnh, trang bị các máy soi hiện đại ở một số cửa khẩu quốc tế tại sân bay và một số cửa khẩu đường bộ phục vụ thông quan nhanh. j. Cải cách công tác thanh tra, kiểm tra chấp hành pháp luật thuế Nhằm khắc phục việc thanh tra kiểm tra chồng chéo trước đây. Trên cơ sở ứng dụng công nghệ thông tin, dựa vào các dữ liệu tích luỹ được để lựa chọn doanh nghiệp cần kiểm tra để vảo đảm khách quan. Quy định rõ chức năng nhiệm vụ, quyền hạn của đoàn thanh tra; quy định thời hạn của một cuộc kiểm tra không quá 5 ngày, thời hạn của một cuộc thanh tra không quá 30 ngày. Doanh nghiệp thường xuyên sai phạm sẽ thanh tra mỗi năm một lần; doanh nghiệp có sai phạm nhưng không thường xuyên thì vài năm kiểm tra một lần; các doanh nghiệp chấp hành tốt pháp luật thuế thì kiểm tra ít hơn nữa. Thực hiện theo nguyên tắc này, số cuộc thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp đã giảm được 60% so với trước đây, chấm dứt hẳn tình trạng một doanh nghiệp có nhiều đoàn kiểm tra. k. Giải quyết kịp thời các vướng mắc, kiến nghị, khiếu nại của đối tượng nộp thuế Bình quân mỗi năm có trên 1 vạn văn bản trả lời vướng mắc. Việc tiếp nhận đơn thư cũng được cải tiến: trước đây chưa được quy định rõ ràng nên đối tượng nộp thuế có thể gửi qua cán bộ, gửi trực tiếp cán bộ lãnh đạo cơ quan, có thể gửi bộ phận thanh tra, ... dẫn đến thất lạc, giải quyết chậm; nay quy định tập trung việc nhận đơn khiếu nại vào một cửa là bộ phận hành chính của cơ quan Thuế, để đảm bảo chỉ đạo thống nhất từ khâu nhận đơn, phân công giải quyết, theo dõi kết quả xử lý, bảo đảm đúng quy chế giải quyết khiếu tố và thời gian quy định. Ngành thuế đã tổ chức Bộ phận dịch vụ hỗ trợ đối tượng nộp thuế để vừa cung cấp thông tin, vừa giải đáp các vướng mắc của doanh nghiệp bước đầu có hiệu quả thiết thực, có tác dụng giảm bớt được các khiếu nại không cần thiết của doanh nghiệp do thiếu thông tin. l. Công tác tuyên truyền và cung cấp dịch vụ đào tạo, hỗ trợ tư vấn cho doanh nghiệp đã được đẩy mạnh trong phạm vi cả nước dưới nhiều hình thức phong phú như: Hàng năm lựa chọn các doanh nghiệp, doanh nhân đã thực hiện tốt các chính sách thuế,để đề nghị Nhà nước và chính quyền các cấp khen thưởng, tôn vinh kịp thời; tổ chức tập huấn, tọa đàm, hướng dẫn các chính sách thuế, các thủ tục kê khai nộp thuế, khai hải quan (bình quân mỗi năm trên 7.000 doanh nghiệp, năm 2004 đã tổ chức đào tạo cho 3.200 doanh nghiệp mới thành lập); xuất bản các loại ấn phẩm như: sách (mỗi năm trên 2 triệu bản), tạp chí thuế ra hàng tháng (trên 2 vạn cuốn/mỗi số, có cả bản tiếng Anh). Tạp chí thuế,đều có mở chuyên mục giải đáp chính sách thuế, thông báo văn bản mới ban hành về thuế và hải quan. Tổng cục Thuế mở WEBSITE điện tử để cung cấp đến các doanh nghiệp những quy định về chính sách mới, thủ tục thu nộp thuế, thủ tục hải quan. Tổ chức các đường dây nóng với trên 800 số điện thoại trả lời trực tiếp các vướng mắc, cung cấp thông tin kịp thời cho đối tượng nộp thuế. Bộ phận dịch vụ hỗ trợ đối tượng nộp thuế đã tư vấn trực tiếp cho trên 1 vạn lượt người tại trụ sở cơ quan Thuế các cấp. m. Đẩy mạnh đối thoại với doanh nghiệp Bộ Tài chính xác định đối thoại với doanh nghiệp là một khâu quan trọng của cải cách hành chính trong lĩnh vực thuế, thông qua đối thoại, ngoài việc cung cấp kịp thời các cơ chế chính sách mới cho doanh nghiệp, kết quả giải quyết các vướng mắc phát sinh nhằm đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, còn có thể tiếp nhận được các thông tin về tình hình thực hiện chính sách chế độ về thuế, phát hiện được những sai phạm, thiếu sót của cán bộ thuế cấp dưới để kịp thời chấn chỉnh, tạo lòng tin của doanh nghiệp với cơ quan Thuế. Theo đó, đối thoại thường xuyên được thực hiện hàng ngày tại trụ sở cơ quan Thuế, các cấp để tiếp nhận thông tin và giải quyết kịp thời các vướng mắc của doanh nghiệp. Việc thực hiện Quy chế đối thoại được coi là nhiệm vụ bắt buộc, thường xuyên của cơ quan Thuế các cấp; là một trong những nội dung trọng tâm của cải cách hành chính trong lĩnh vực thuế, phù hợp với hướng chuyển từ cơ chế quản lý áp đặt sang cơ chế cung cấp thông tin, tuyên truyền, dịch vụ hỗ trợ đối tượng nộp thuế tạo điều kiện thực hiện đúng pháp luật thuế . 1.1.3 Cải cách về tổ chức bộ máy và cán bộ Cải cách về thể chế, chính sách và việc chuyển sang phương thức quản lý mới (bỏ cơ chế thông báo nộp thuế, chuyển từ thu thuế sang hướng dẫn, hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện quyền tự kê khai, tự nộp thuế; từ tiền kiểm chuyển sang hậu kiểm,...) như đã nêu ở phần trên đặt ra yêu cầu phải tổ chức lại bộ máy quản lý, thay đổi phương thức phối hợp công tác, đẩy mạnh phân cấp, sắp xếp và đào tạo lại đội ngũ cán bộ cho phù hợp với cơ chế mới. Những nội dung lớn trong cải cách về tổ chức bộ máy và cán bộ trong những năm qua là: - Bộ máy quản lý thuế được tổ chức lại theo mô hình chức năng, (trong đó xác định rõ thời gian giải quyết công việc ở từng khâu); chuyển từ quản lý khép kín sang quản lý theo chức năng; bỏ những công việc trùng lặp và các khâu giám sát chồng chéo, xây dựng lực lượng chuyên nghiệp, chuyên sâu... do đó thời gian giải quyết công việc được rút ngắn hơn trước. Thực hiện Quyết định số 218/2003/QĐ - TTg của Thủ tướng Chính phủ, ngành Thuế đã sắp xếp lại, thành lập và tăng cường lực lượng cho Bộ phận hỗ trợ đối tượng nộp thuế, lược bỏ 1.042 bộ phận không cần thiết trong hệ thống (trong đó có bộ phận tính thuế, thông báo thuế). - Tổng cục Thuế và các cấp trong ngành Thuế đã xây dựng và ký quy chế phối hợp công tác với các cơ quan, đơn vị trong và ngoài ngành để đảm bảo giải quyết công việc nhanh hơn, có hiệu quả hơn và đúng quy định của Pháp luật. Trong nội bộ ngành đã có quy chế phối hợp công tác giữa Tổng cục Thuế - Tổng cục Hải quan - Kho bạc Nhà nước trong việc thu nộp thuế, cung cấp dữ liệu làm báo cáo thống kê, thông tin tình hình doanh nghiệp. Tổng cục Thuế, Tổng cục Hải quan đã có quy chế phối hợp với Tổng cục Cảnh sát (Bộ Công an) trong việc kiểm tra chống buôn lậu, chống gian lận thương mại; Phối hợp với cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ quan ngân hàng, cơ quan quản lí thị trường để nắm thông tin của doanh nghiệp từ khi thành lập cho đến quá trình kinh doanh lưu thông hàng hoá và thanh toán tiền hàng... để phục vụ quản lý thu thuế. - Đẩy mạnh phân cấp cho các Cục, Chi cục Thuế, trong việc xác định giá tính thuế, thu lệ phí trước bạ, giải quyết miễn, giảm thuế, hoàn thuế, quyết định kiểm tra…trên cơ sở có sự phân công rõ ràng, cụ thuể hoá trách nhiệm của từng công chức, từng khâu công việc trong quy trình thủ tục quản lý. Trong ngành thuế cũng đang mở rộng việc uỷ nhiệm thu một số khoản thu gắn với phân cấp ngân sách cho UBND xã, phường, đảm bảo sát hơn, hiệu quả hơn. Việc bố trí cán bộ quản lý thuế đã chuyển từ quản lý theo đối tượng (khép kín) chuyển sang quản lý theo chức năng nhằm hạn chế tiêu cực, đồng thời tạo điều kiện tiến tới xây dựng lực lượng cán bộ thuế chuyên nghiệp theo thông lệ quốc tế. Tăng cường lực lượng cán bộ cho công tác hỗ trợ đối tượng nộp thuế và người khai hải quan, công tác thanh tra; - Tăng cường công tác đào tạo và đào tạo lại để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, tập trung theo hướng chuyên sâu, đi vào kỹ năng từng khâu quản lí đối với từng ngạch công chức; coi trọng cả giáo dục về chính trị tư tưởng, đạo đức nghề nghiệp, kỷ luật công tác và chuyên môn nghiệp vụ. Nội dung, chương trình, hình thức, tài liệu bồi dưỡng đã được đổi mới, sát với thực tế và yêu cầu quản lí mới. 1.2 Kết quả thu Ngân sách 2001-2005 Kết quả đạt được năm 2005 và 5 năm 2001-2005 của ngành Thuế đã góp phần hoàn thành mục tiêu KT - XH mà Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đề ra, tổng số thu ngân sách Nhà nước 5 năm 2001 - 2005 đạt trên 770.000 tỷ đồng (vượt trên: 150.000 tỷ đồng), bằng 124% của kế hoạch 5 năm; Tỷ lệ động viên đạt bình quân 22,5% GDP (mục tiêu 20% - 21%). Ghi chú: Số liệu được thống kê theo tài liệu của "Báo cáo Tổng kết công tác thuế năm 2005 và 5 năm 2001-2005” ngày 24/11/2005 của Tổng cục thuế. Thu NSNN tăng trưởng khá nên ngoài việc đảm bảo nhu cầu chi tiêu thường xuyên, Nhà nước còn tăng chi cho đầu tư phát triển, trả nợ nước ngoài, lập quỹ dự trữ tài chính Nhà nước và kiềm chế lạm phát ở mức hợp lý. 2. Hệ thống thuế Việt Nam giai đoạn 2006 - nay 2.1 Về chính sách thuế Để đảm bảo mục tiêu góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, khuyến khích xuất khẩu, đầu tư, đổi mới công nghệ và thể hiện tốt vai trò là công cụ quản lý, điều tiết vĩ mô có hiệu quả của Nhà nước đối với nền kinh tế, trong giai đoạn 2006 đến nay, hệ thống chính sách thuế của Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung kịp thời. Những nội dung sửa đổi, bổ sung chủ yếu trong hệ thống chính sách thuế trong giai đoạn này là: (1) Về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu: đã sửa đổi các quy định về thuế suất, giá tính thuế, thời hạn nộp thuế, thủ tục nộp thuế để khuyến khích tối đa xuất khẩu; thực hiện bảo hộ theo lộ trình cam kết có điều kiện gắn với định hướng quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực và vùng lãnh thổ; (2) Về thuế GTGT: đã giảm bớt nhóm hàng hoá, dịch vụ không chịu thuế tạo điều kiện cho việc tính thuế, khấu trừ thuế được liên hoàn giữa các khâu trong quá trình sản xuất kinh doanh; giảm từ 3 mức thuế suất (5%, 10%, 20%) xuống còn hai mức thuế suất là 5% và 10% (ngoài mức thuế suất 0% đối với hàng hóa dịch vụ xuất khẩu); sắp xếp, điều chỉnh lại hợp lý các nhóm hàng hoá, dịch vụ chịu thuế suất 5% và 10%; (3) Về thuế TNDN: đã sửa đổi giảm mức thuế suất phổ thông từ 28% xuống 25% (áp dụng từ 01/01/2009), áp dụng thống nhất về mức thuế suất và ưu đãi thuế không phân biệt giữa các thành phần kinh tế trong nước và ngoài nước, thu hẹp dần các ưu đãi không còn phù hợp, quy định rõ, minh bạch phù hợp thông lệ quốc tế về chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế để khuyến khích đầu tư, khuyến khích đổi mới công nghệ và đảm bảo bình đẳng trong cạnh tranh giữa các thành phần kinh tế; (4) Về thuế TTĐB: đã sửa đổi quy định mở rộng đối tượng chịu thuế TTĐB, điều chỉnh thuế suất thuế TTĐB cho phù hợp với mục tiêu điều tiết thu nhập và hướng dẫn tiêu dùng; (5) Về thuế TNCN đã có những thay đổi so với trước đây là: Luật thuế TNCN số 04/2007/QH12 được Quốc hội thông qua ngày 21/11/2007 (có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2009) thay thế Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, việc ra đời của Luật thuế TNCN đã tạo ra những thay đổi lớn về chính sách thuế TNCN so với trước đây, cụ thể: + Quy định thống nhất điều chỉnh nghĩa vụ thuế của cá nhân có thu nhập từ các nguồn khác nhau, xoá bỏ phân biệt đối xử về nghĩa vụ thuế giữa người Việt Nam và người nước ngoài; + Về thuế suất: đã điều chỉnh giảm mức thuế suất cao nhất từ 50% xuống 40%, từ 01/01/2009 xuống 35%, mức thuế suất thấp nhất từ 10% xuống 5%; + Từ 01/01/2009 đã bỏ quy định mức khởi điểm chịu thuế và chuyển sang áp dụng giảm trừ gia cảnh cho cá nhân người nộp thuế và người phụ thuộc, tạo điều kiện để quản lý thu nhập xã hội, giảm mức động viên về thuế TNCN. (6) Về thuế tài nguyên: Luật thuế Tài nguyên số 45/2009/QH12 được Quốc hội thông qua ngày 25/11/2009, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2010, đã sửa đổi quy định nâng mức thuế suất tối thiểu của khung thuế suất đối với các loại tài nguyên thuộc nhóm kim loại và một số tài nguyên quý hiếm khác; bỏ mức thuế suất 0% và quy định tài nguyên không tái tạo được phải áp dụng mức thuế suất cao, mở rộng đối tượng chịu thuế và đối tượng nộp thuế, sửa đổi bổ sung phương pháp xác định giá tính thuế; (7) Về thuế sử dụng đất nông nghiệp: về cơ bản đã thực hiện miễn giảm thuế giai đoạn từ năm 2003 đến hết năm 2010; từ năm 2011, theo Nghị quyết số 55/2010/QH12 được Quốc hội thông qua ngày 24/11/2010, thuế sử dụng đất nông nghiệp tiếp tục được miễn giảm từ 2011 đến hết 31/12/2020; (8) Về thuế sử dụng đất phi nông nghiệp: Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp đã được Quốc hội thông qua ngày 17/6/2010 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2012 nhằm tăng cường sự quản lý Nhà nước đối với đất đai, khuyến khích tổ chức, cá nhân sử dụng đất tiết kiệm, có hiệu quả, góp phần hạn chế đầu cơ về đất, khuyến khích thị trường bất động sản phát triển lành mạnh; (9) Về thuế bảo vệ môi trường: Luật thuế bảo vệ môi trường đã được Quốc hội thông qua ngày 15/11/2010 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2012 nhằm khuyến khích doanh nghiệp, người dân chuyển đổi hành vi sử dụng, tiêu dùng sản phẩm góp phần bảo vệ môi trường; Nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế và hợp tác quốc tế về thuế, hệ thống chính sách thuế đã có một số sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thông lệ chung của quốc tế đồng thời vẫn đảm bảo thực hiện bảo hộ có chọn lọc, có thời hạn, có điều kiện, góp phần tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển, bảo đảm lợi ích quốc gia. Những sửa đổi, bổ sung đó là: + Về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu: đã thực hiện cắt giảm thuế để thực hiện cam kết quốc tế (đặc biệt là cam kết khi trở thành thành viên WTO), trong đó mỗi năm giảm từ 1.500 - 1.800 dòng thuế với mức cắt giảm thuế suất hàng năm khoảng 2 - 3% đồng thời sửa đổi các quy định về thuế suất, giá tính thuế, thời hạn nộp, thủ tục thu nộp thuế để thực hiện cam kết quốc tế và thông lệ quốc tế; áp dụng thuế tự vệ, thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp, thuế chống phân biệt đối xử để khuyến khích tối đa cho xuất khẩu, thực hiện bảo hộ theo lộ trình cam kết có điều kiện gắn với định hướng quy hoạch ngành, lĩnh vực và vùng lãnh thổ; + Về thuế TNDN: đã bãi bỏ các quy định ưu đãi thuế TNDN đối với trường hợp đáp ứng điều kiện về sử dụng nguyên liệu trong nước và trường hợp đáp ứng điều kiện về tỷ lệ xuất khẩu; + Về thuế TTĐB: đã bãi bỏ việc phân biệt thuế suất giữa thuốc lá điếu sản xuất bằng nguyên liệu nhập khẩu và nguyên liệu trong nước, đã bãi bỏ miễn thuế, rút ngắn thời gian giảm thuế đối với ô tô sản xuất, lắp ráp trong nước; đã thống nhất thuế suất bia chai và bia hơi, điều chỉnh thuế suất đối với rượu có độ cồn từ 20 độ trở lên áp dụng từ 01/01/2010 để thực hiện các cam kết mà Việt Nam đã đưa ra trong quá trình gia nhập WTO. 2.2 Công tác quản lý thuế 2.2.1. Về cải cách thể chế trong công tác quản lý thuế Nhằm thống nhất các quy định về quản lý thuế và các thủ tục về thuế, quy định trách nhiệm và quyền hạn của các tổ chức và cá nhân nộp thuế, cơ quan thuế và các tổ chức, cá nhân khác trong việc thực hiện pháp luật thuế, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý thuế, ngày 29/11/2006 Quốc hội đã thông qua Luật quản lý thuế có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/7/2007. Luật Quản lý thuế được ban hành là văn bản pháp lý quan trọng, tạo sự thống nhất về mặt pháp lý, nâng cao tính minh bạch, tính thống nhất trong triển khai thực hiện công tác quản lý thuế. Các chức năng quản lý thuế, các thủ tục hành chính thuế, quyền và nghĩa vụ của người nộp thuế khi thực hiện các thủ tục hành chính thuế, trách nhiệm của các cơ quan hữu quan và các tổ chức, cá nhân khác có liên quan trong việc thực thi pháp luật thuế được quy định đầy đủ, rõ ràng và thống nhất trong Luật Quản lý thuế và hệ thống các văn bản hướng dẫn luật, qua đó đã xác định đúng vai trò của công tác quản lý thuế trong hệ thống cơ quan công quyền của Nhà nước. Luật quản lý thuế là cơ sở pháp lý chính thức để cơ quan thuế tổ chức lại bộ máy quản lý đảm bảo thực hiện hiệu quả cơ chế cơ sở sản xuất kinh doanh tự kê khai, tự nộp thuế. Cơ chế cơ sở sản xuất kinh doanh tự kê khai, tự nộp thuế được chính thức luật hoá tại Luật Quản lý thuế và áp dụng trong phạm vi toàn quốc từ ngày 1/7/2007. Theo cơ chế này, người nộp thuế tự tính, tự kê khai, tự nộp thuế và tự chịu trách nhiệm về việc thực hiện nghĩa vụ thuế theo pháp luật thuế; cơ quan thuế thay đổi phương pháp quản lý theo hướng tiên tiến, phù hợp với yêu cầu phát triển, tăng cường tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ thuế, đồng thời trên nguyên tắc quản lý rủi ro đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra, cưỡng chế nợ thuế, tập trung các biện pháp xử lý người nộp thuế không tự nguyện tuân thủ pháp luật. Luật quản lý thuế tạo điều kiện thuận lợi để cơ quan thuế các cấp chuyển đổi cơ bản sang mô hình tổ chức quản lý thuế theo chức năng (với 4 chức năng cơ bản là tuyên truyền, hỗ trợ; kê khai và kế toán thuế; thanh tra, kiểm tra; quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế) trên cơ sở đẩy mạnh xây dựng hệ thống thông tin về người nộp thuế và ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý thuế. Luật quản lý thuế tạo cơ sở pháp lý cho việc mở rộng ủy nhiệm thu các khoản thuế và thu khác cho Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn. Cơ chế ủy nhiệm thu đã tiết kiệm nguồn lực cho các Chi cục thuế và giảm chi phí thu, ngành Thuế có điều kiện đào tạo và sắp xếp lại đội ngũ cán bộ thuế cho các chức năng quản lý thuế. 2.2.2 Về cải cách hành chính thuế - Từ năm 2007, theo Quyết định số 78/2007/QĐ-BTC ngày 18/9/2007 của Bộ trưởng Bộ Tài chính cơ chế “một cửa” đã chính thức được triển khai thực hiện thống nhất tại bộ phận tuyên truyền hỗ trợ của cơ quan thuế các cấp Cục thuế và Chi cục thuế trong việc giải quyết các thủ tục hành chính thuế của người nộp thuế. Theo đó, người nộp thuế chỉ phải đến một nơi để thực hiện toàn bộ các thủ tục hành chính thuế từ nộp hồ sơ đến khi nhận kết quả, thời gian giải quyết đúng hạn theo giấy hẹn. Bên cạnh việc triển khai thực hiện cơ chế “một cửa” trong phạm vi toàn quốc để giải quyết các thủ tục hành chính thuế, cơ quan thuế còn phối hợp với cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ quan công an tổ chức thực hiện cơ chế “một cửa liên thông” trong việc cấp đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế, chứng nhận con dấu cho doanh nghiệp; phối hợp với cơ quan Tài nguyên môi trường thực hiện cơ chế “một cửa liên thông” trong việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. - Thực hiện Đề án đơn giản hoá thủ tục hành chính trong lĩnh vực quản lý Nhà nước giai đoạn 2007-2010 của Chính phủ, công tác cải cách hành chính trong lĩnh vực thuế đã đạt được những kết quả quan trọng và được Quốc hội ghi nhận tại Nghị quyết số 57/2010/QH12 ngày 26/11/2010 về kết quả giám sát việc thực hiện cải cách thủ tục hành chính trong một số lĩnh vực liên quan trực tiếp đến công dân và doanh nghiệp theo chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn 2001 - 2010. - Ngành thuế đã rà soát, trình Bộ Tài chính công bố bộ thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực thuế và phí, lệ phí gồm 330 thủ tục và công khai trên các trang thông tin điện tử của Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế và tại cơ quan thuế các cấp để doanh nghiệp, người dân biết và dễ thực hiện, đồng thời, kiểm soát việc thực thi theo đúng quy định, trình tự, tránh sự tuỳ tiện, gây phiền hà cho người nộp thuế; tăng cường phân cấp thực hiện giải quyết các thủ tục hành chính thuế để rút ngắn trình tự thủ tục và thời gian giải quyết cho người nộp thuế. Trên cơ sở kết quả rà soát đã kiến nghị đơn giản hoá 271/330 thủ tục, trong đó kiến nghị sửa đổi, bổ sung 261 thủ tục, thay thế 06 thủ tục và bãi bỏ 04 thủ tục, đạt chỉ tiêu Thủ tướng Chính phủ giao; với phương án đơn giản hoá thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực thuế và phí, lệ phí, chi phí tuân thủ thủ tục hành chính của người nộp thuế đã giảm trên 30%. 2.2.3. Công tác thanh tra, kiểm tra thuế Công tác thanh tra, kiểm tra thuế bước đầu được nghiên cứu đổi mới theo định hướng nguyên tắc quản lý rủi ro; xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu thông tin về tổ chức, cá nhân nộp thuế; sử dụng phân tích thông tin để xác định đối tượng và nội dung cần thanh tra, kiểm tra; từng bước nâng cao hiệu quả, đảm bảo tính khách quan, công khai, minh bạch trong thanh tra, kiểm tra thuế. Các hành vi vi phạm pháp luật về thuế của người nộp thuế đã được phát hiện và xử lý kịp thời góp phần chống thất thu ngân sách Nhà nước; các kẽ hở trong cơ chế, chính sách được phát hiện để kiến nghị sửa đổi bổ sung; công tác kiểm tra hồ sơ khai thuế tại trụ sở cơ quan thuế đã được tăng cường; công tác thanh tra, kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế đã có chuyển biến tích cực, giai đoạn từ 2006 đến 2010, ngành thuế đã thanh tra, kiểm tra được 316.362 lượt đơn vị, phát hiện và truy thu vào ngân sách Nhà nước 22.447 tỷ đồng. 2.2.4. Công tác quản lý thu nợ thuế Số người nộp thuế nợ thuế và số thuế nợ đọng của từng người nộp thuế về cơ bản đã được rà soát, xác định, phân loại, theo dõi trên hệ thống ứng dụng quản lý nợ kịp thời chính xác làm căn cứ xây dựng chỉ tiêu thu nợ phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành thu nợ thuế; nguyên nhân, tình trạng nợ thuế được xác định làm cơ sở áp dụng các biện pháp thu hồi nợ phù hợp, hiệu quả. Hiệu quả công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế được nâng cao, đã thực hiện thu trên 80% nợ có khả năng thu thời điểm 31/12 hàng năm; nợ mới phát sinh được hạn chế, giảm dần qua các năm, tỷ lệ nợ đọng có khả năng thu trên tổng thu năm 2010 là 5,5%, năm 2011 là 4,8% (năm 2006 là 6,4%). Thực hiện Luật Quản lý thuế từ năm 2007 đã hình thành hệ thống tổ chức bộ máy quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế từ Tổng cục Thuế, Cục thuế và Chi cục Thuế, đến 31/12/2010 tổng số cán bộ làm công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế chiếm 6,7% tổng số cán bộ thuế trong toàn ngành. Hệ thống quy trình quản lý nợ thế được ban hành cơ bản đáp ứng được yêu cầu thực tiễn. 2.2.5 Công tác tuyên truyền và hỗ trợ tổ chức, cá nhân nộp thuế Chính sách thuế, thủ tục hành chính thuế được tuyên truyền sâu rộng, kịp thời tới mọi người dân trong xã hội thông qua các phương tiện truyền thông như báo, tạp chí, tờ rơi, sách hướng dẫn, trang tin điện tử ngành thuế, đài phát thanh, truyền hình, thông qua chương trình thí điểm đưa pháp luật thuế vào giảng dạy trong các cấp học đường. Người nộp thuế điển hình thực hiện tốt nghĩa vụ thuế được biểu dương kịp thời tại các Hội nghị tuyên dương doanh nghiệp, doanh nhân thực hiện tốt chính sách, pháp luật thuế; các hành vi gian lận của người nộp thuế được công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng. Năm 2009, toàn ngành đã ký 2.147 hợp đồng với báo và tạp chí các loại và đã đăng số lượng tin bài về thuế trên các báo và tạp chí là 8.636, so với năm 2005 số lượng tin bài về thuế được đăng là 4.299 (tăng hơn 100%); đã ký hợp đồng phát sóng 8.528 chuyên mục và 38.180 tin, phóng sự; đã biên soạn và phát hành 12.613.629 ấn phẩm tuyên truyền về thuế dưới dạng tờ rơi, tờ gấp, sách hướng dẫn, hỏi - đáp về thuế trên cả nước. Người nộp thuế được hỗ trợ nắm bắt chính sách thuế, thủ tục hành chính thuế, được giải đáp các vướng mắc thông qua nhiều hình thức đa dạng như hỗ trợ trực tiếp tại văn phòng cơ quan thuế, bằng văn bản, định kỳ tổ chức đối thoại với doanh nghiệp, tập huấn chính sách chế độ cho người nộp thuế; ngành thuế đã tổ chức theo định kỳ thường xuyên các Hội nghị đối thoại giữa Bộ Tài chính, cơ quan Thuế các cấp với người nộp thuế, các Hội nghị đối thoại với nhà đầu tư và doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (Hàn Quốc, Nhật Bản, EU...) một cách thiết thực, hiệu quả, góp phần thúc đẩy môi trường kinh doanh, môi trường đầu tư thuận lợi cho các nhà đầu tư và người nộp thuế. Năm 2009, đã có hơn 380.000 lượt người nộp thuế được hỗ trợ trực tiếp tại cơ quan thuế; 44.300 lượt người nộp thuế được hỗ trợ trực tiếp tại trụ sở người nộp thuế; 364.700 lượt người nộp thuế được hỗ trợ qua điện thoại, tổng số văn bản trả lời tại cơ quan thuế các cấp là 27.922 văn bản; đã tổ chức 6.500 lớp tập huấn về chế độ, chính sách thuế cho hơn 481.700 lượt người nộp thuế. Kết quả nổi bật quan trọng của công tác hỗ trợ là đã tổ chức tiếp nhận và giải quyết các thủ tục hành chính thuế cho người nộp thuế theo cơ chế “một cửa” từ năm 2007. 2.2.6 Công tác quản lý, sử dụng hóa đơn Trong lĩnh vực quản lý và sử dụng hóa đơn, ngày 14/5/2010 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 51/2010/NĐ-CP quy định về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2011, thay thế Nghị định số 89/2002/NĐ-CP ngày 07 tháng 11 năm 2002 của Chính phủ quy định về việc in, phát hành, sử dụng, quản lý hóa đơn. Việc ban hành các quy định mới về quản lý, sử dụng hóa đơn theo Nghị định số 51/2010/NĐ-CP đã: (1) Đáp ứng các yêu cầu của hội nhập, thông lệ quốc tế, phù hợp với các luật mới hoặc thay thế luật cũ như Luật Doanh nghiệp, Luật Kế toán và Luật Giao dịch điện tử và việc cải cách các thủ tục hành chính hiện nay; đồng thời quy định rõ hơn quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên có liên quan trong vấn đề in, phát hành và sử dụng hoá đơn (Doanh nghiệp, Cơ quan thuế và các tổ chức có liên quan); (2) Tăng cường việc xử phạt để xử lý các vi phạm khi in, phát hành và sử dụng hoá đơn để đảm bảo tính nghiêm minh của phát luật đồng thời có cơ chế khen thưởng cho các tổ chức, cá nhân thực hiện tốt hoá đơn và được quyền quy định áp dụng các biện pháp quản lý thuế thuận tiện hơn; (3) Khuyến khích tổ chức, cá nhân vừa lựa chọn hình thức hoá đơn phù hợp vừa có thể lựa chọn thêm hình thức hoá đơn điện tử để thúc đẩy thương mại điện tử; (4) Đơn giản hoá thủ tục trong việc in, phát hành và quản lý hoá đơn. 2.2.7. Công tác phát triển tin học đáp ứng yêu cầu cải cách và hiện đại hóa công tác quản lý thuế Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý thuế đã được ưu tiên đầu tư kinh phí và nguồn nhân lực, đã phát triển và đưa vào vận hành hệ thống các ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ các nghiệp vụ cốt lõi và công tác quản lý hành chính của cơ quan thuế. Các phần mềm ứng dụng tin học phục vụ các chức năng quản lý thuế đã được xây dựng và phát triển thành một hệ thống ứng dụng có tính liên kết dữ liệu; thông tin của người nộp thuế về đăng ký thuế, kê khai, nộp thuế, thanh tra, kiểm tra, quản lý thu nợ và cưỡng chế nợ thuế... được khai thác tại các bộ phận chức năng khác nhau. Hệ thống ứng dụng hỗ trợ đối với người nộp thuế được xây dựng, triển khai rộng như kê khai thuế qua mạng Internet, từ quý 4 năm 2009 đã triển khai thí điểm tại 4 tỉnh, thành phố (Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Bà Rịa Vũng Tàu, Đà Nẵng) với 410 doanh nghiệp tham gia nộp hồ sơ kê khai thuế qua mạng. Hết năm 2010 đã triển khai trên địa bàn 19 tỉnh/thành phố với hơn 7.200 doanh nghiệp. Năm 2011 thí điểm ở tất cả 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Trong năm 2012, tại các thành phố lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh tỷ lệ kê khai thuế qua mạng đạt trên 95%, có đơn vị đạt 100% các tổ chức kinh tế thực hiện kê khai thuế qua mạng internet. Dự kiến, từ tháng 7/2013 trở đi, theo quy định tại Luật số 21/2012/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quản lý thuế số78/2006/QH11 thì tất cả tổ chức kinh doanh tại địa bàn có cơ sở hạ tầng về công nghệ thông tin phải thực hiện kê khai, nộp thuế, giao dịch với cơ quan quản lý thuế qua mạng internet. Triển khai dự án hiện đại hóa quy trình quản lý thu nộp thuế giữa 4 ngành (Thuế - Hải quan - Kho bạc - Tài chính), hết năm 2011 đã hoàn thành việc triển khai giai đoạn 2 của dự án hiện đại hóa quy trình quản lý thu nộp thuế giữa 04 ngành (Thuế - Hải quan - Kho bạc - Tài chính), theo đó đã đảm bảo hoạt động ổn định tại 53 Cục thuế tỉnh/TP với 516 Chi cục Thuế quận/huyện. Trong năm 2012 tiếp tục triển khai tại 10 tỉnh/thành phố với 176 quận/huyện; Triển khai mạnh mẽ đề án nộp thuế qua ngân hàng, ký kết thoả thuận hợp tác các ngân hàng thương mại tại các KBNN, Chi cục Thuế quận, huyện thuộc 63 tỉnh, thành phố; Duy trì việc phối hợp công tác với cơ quan Kế hoạch - Đầu tư trong việc trao đổi thông tin đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế đáp ứng yêu cầu của Nghị định 43/2010/NĐ-CP, đảm bảo rút ngắn thủ tục hành chính, thuận tiện cho doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước, triển khai rộng rãi trên cả nước hệ thống ứng dụng công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu quản lý thuế TNCN (PIT) theo hướng xử lý dữ liệu tập trung, thống nhất và từng bước tự động hóa. Nâng cấp mạng diện rộng đến tất cả các Chi cục Thuế; phát triển ứng dụng theo mô hình 3 lớp, triển khai hệ thống thư tín điện tử, trao đổi trực tuyến, chia sẻ thông tin giữa các cấp trong toàn ngành và tạo môi trường làm việc, chỉ đạo trên mạng; các phần mềm hệ thống nền được nâng cấp theo định hướng công nghệ mới, đảm bảo tính an toàn, bảo mật dữ liệu cao. 2.2.8. Công tác kiện toàn tổ chức ngành thuế theo yêu cầu cải cách và hiện đại hóa hệ thống thuế - Thực hiện Chiến lược cải cách hệ thống thuế đến năm 2010, để tạo điều kiện cho việc thực hiện cơ chế tự khai, tự tính, tự nộp và đáp ứng yêu cầu quản lý thuế mới theo quy định của Luật quản lý thuế, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 76/2007/QĐ-TTg ngày 28/5/2007 quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Thuế trực thuộc Bộ Tài chính. Theo đó, kể từ ngày 1/7/2007, tổ chức bộ máy cơ quan thuế các cấp đã chuyển đổi hoàn toàn theo mô hình quản lý thuế chủ yếu theo chức năng. Theo Quyết định 76/2007/QĐ-TTg: + Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Tổng cục Thuế đã được bổ sung đầy đủ theo quy định của Luật quản lý thuế; chức năng, nhiêm vụ các bộ phận thuộc cơ quan thuế các cấp đã được quy định cụ thể, rõ ràng hơn, từng bước giảm bớt được sự chồng chéo, xóa bỏ bớt các bộ phận không cần thiết; + Các bộ phận quản lý thuế theo chức năng: tuyên truyền, hỗ trợ; xử lý tờ khai và kế toán thuế; quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế; thanh tra, kiểm tra được kiện toàn và thành lập mới; + Bộ phận kiểm tra nội bộ được thành lập tại cơ quan thuế ba cấp nhằm tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực thi công vụ; + Bộ phận quản lý thuế TNCN được thành lập tại cơ quan thuế ba cấp đáp ứng yêu cầu quản lý thuế TNCN; + Trường Nghiệp vụ Thuế được thành lập trên cơ sở nâng cấp Trung tâm bồi dưỡng nghiệp vụ Thuế, để đẩy mạnh công tác đào tạo nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ, công chức ngành Thuế. + Cục Ứng dụng công nghệ thông tin được thành lập trên cơ sở Trung tâm Tin học, giúp quản lý đầu tư và phát triển các chương trình ứng dụng công nghệ thông tin trong toàn ngành, trực tiếp quản lý kho dữ liệu ngành Thuế. - Ngày 28/9/2009 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 115/2009/QĐ-TTg quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Thuế trực thuộc Bộ Tài chính, thay thế Quyết định số 76/2007/QĐ-TTg. Về cơ bản, Quyết định 115/2009/QĐ-TTg giữ nguyên các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Tổng cục Thuế và xác định mô hình tổ chức ngành Thuế là quản lý theo chức năng. Tuy nhiên, có một số nội dung thay đổi so với Quyết định 76/2007/QĐ-TTg là: + Thay đổi tên gọi của một số đơn vị thuộc Tổng cục Thuế: các Ban đổi tên thành các Vụ; + Sáp nhập Ban hỗ trợ và Ban Tuyên truyền thành Vụ Tuyên truyền - Hỗ trợ Người nộp thuế; + Thành lập Vụ quản lý thuế các doanh nghiệp lớn; + Một số Vụ, đơn vị được tổ chức phòng Theo Quyết định 115/2009/QĐ-TTg, cơ cấu tổ chức của Tổng cục Thuế gồm 17 Vụ và các đơn vị trực thuộc bao gồm: Vụ Chính sách, Vụ Pháp chế, Vụ Dự toán thu thuế, Vụ Kê khai và kế toán thuế, Vụ Quản lý nợ và Cưỡng chế nợ thuế, Vụ Quản lý thuế TNCN, Vụ Quản lý thuế Doanh nghiệp lớn, Vụ Tuyên truyền - Hỗ trợ Người nộp thuế, Vụ Hợp tác quốc tế, Vụ Kiểm tra nội bộ, Vụ Tổ chức cán bộ, Vụ Tài vụ - Quản trị, Văn phòng, Tạp chí Thuế, Cục Công nghệ thông tin, Trường Nghiệp vụ Thuế, Thanh tra Tổng cục Thuế, Ban Cải cách và Hiện đại hóa. Đến thời điểm tháng 12/2009, tại cấp Cục thuế có 63 Cục thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương với 718 phòng chuyên môn nghiệp vụ theo chức năng và quản lý nội bộ; tại cấp Chi cục thuế, gồm 694 Chi cục thuế các quận, huyện, thị xã, với 6.179 Đội thuế. 2.2.9. Công tác đào tạo bồi dưỡng Nhằm thực hiện các mục tiêu cải cách, phát huy sức mạnh của ngành Thuế, nâng cao hiệu quả quản lý thuế, công tác đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ cán bộ, công chức ngành Thuế đã được triển khai mạnh mẽ và đồng bộ. Thông qua việc cử cán bộ đi học đại học, trên đại học, chất lượng đội ngũ cán bộ công chức, viên chức trong bộ máy cơ quan thuế các cấp đã từng bước được nâng lên, đáp ứng tốt hơn nhiệm vụ được giao. Tính đến ngày 31/12/2010, số lượng cán bộ có trình đại học trở lên của ngành là 23.620 người (chiếm tỷ lệ 60%), cán bộ có trình độ cao đẳng, trung cấp, khác là 16.214 người (chiếm tỷ lệ 40%). Để thống nhất công tác đào tạo bồi dưỡng trong toàn ngành, năm 2007, Trường Nghiệp vụ Thuế được thành lập theo Quyết định số 2092/2007/QĐ-BTC ngày 15/6/2007 của Bộ trưởng Bộ Tài chính. Từ năm 2005 đến hết tháng 12/2009, Trường Nghiệp vụ Thuế đã tổ chức được 412 lớp, đào tạo, bồi dưỡng cơ bản và chuyên sâu chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ về quản lý thuế, ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý thuế cho hơn 30.367 lượt cán bộ. Trong giai đoạn từ 2006-2010, Đề án đào tạo bồi dưỡng cán bộ công chức ngành Thuế giai đoạn 2006-2010 đã được xây dựng và tổ chức triển khai thực hiện với mục tiêu “Phát triển đội ngũ cán bộ, công chức thuế có phẩm chất chính trị và đạo đức nghề nghiệp, có trình độ chuyên môn cao, kiến thức quản lý thuế hiện đại theo hướng chuyên sâu, chuyên nghiệp đáp ứng yêu cầu của cải cách hiện đại hóa hệ thống thuế, tiêu chuẩn chức danh và ngạch công chức theo quy định”. Tiến độ đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, năng lực quản lý thuế cho cán bộ công chức thuế được đẩy mạnh. Trong đó, tập trung đào tạo, bồi dưỡng các chức năng quản lý thuế, theo 2 bước: Tổng cục Thuế tổ chức đào tạo cho lãnh đạo chủ chốt các Cục thuế và đội ngũ giảng viên kiêm chức các Cục thuế; trên cơ sở đó, Cục Thuế tổ chức đào tạo cho công chức toàn ngành theo hướng dẫn của Tổng cục Thuế. Giai đoạn 2006-2010, trung bình ngành Thuế đào tạo, bồi dưỡng được 48.522 lượt công chức/năm, mỗi công chức được đào tạo, bồi dưỡng 4,6 lần. Để đáp ứng yêu cầu chiến lược cải cách hiện đại hóa ngành Thuế giai đoạn 2011-2020, trung bình số lượng công chức được đào tạo, bồi dưỡng phải ngày càng tăng. Do đó, chỉ tính riêng cho năm 2012, số lượng công chức ngành Thuế được đào tạo, bồi dưỡng đạt 57.720 lượt người. 2.2.10 Công tác quản lý kê khai và kế toán thuế Công tác kê khai và kế toán thuế đã được thực hiện thống nhất theo quy trình, dữ liệu hồ sơ khai thuế được cập nhật đầy đủ, kịp thời, hình thành nguồn dữ liệu thông tin cơ bản về người nộp thuế phục vụ cho quản lý thuế khi thực hiện cơ chế cơ sở sản xuất kinh doanh tự tính, tự khai, tự nộp thuế; các trường hợp thành lập doanh nghiệp nhằm mục đích mua bán hóa đơn bất hợp pháp, không hoạt động kinh doanh, không kê khai nộp thuế được phát hiện và ngăn chặn tương đối kịp thời thông qua việc kiểm tra, rà soát thường xuyên hồ sơ khai thuế; việc sử dụng tờ khai mã vạch hai chiều, áp dụng hình thức kê khai thuế điện tử... đã tạo thuận lợi và giảm thiểu chi phí cho người nộp thuế và cơ quan thuế. Chế độ kế toán thuế được xây dựng và thí điểm áp dụng trong quản lý thuế TNCN, nghĩa vụ thuế của người nộp thuế được ghi chép đầy đủ, chính xác, kịp thời theo hệ thống tài khoản kế toán. 2.2.11 Công tác Hợp tác quốc tế về thuế Hoạt động hợp tác quốc tế về thuế được tăng cường, tiếp nhận và triển khai thực hiện nhiều dự án tài trợ quốc tế; chủ động tham gia và tổ chức các hoạt động, sự kiện quốc tế về thuế, qua đó mở rộng hiểu biết, tích lũy kinh nghiệm giúp nâng cao năng lực quản lý thuế. Đến hết năm 2012, Việt Nam đã ký Hiệp định thuế với 62 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới góp phần tạo môi trường pháp lý thuận lợi, khuyến khích các hoạt động đầu tư nước ngoài vào Việt Nam và từ Việt Nam ra nước ngoài. Việc áp dụng Hiệp định được tổ chức tốt, xử lý miễn giảm đúng theo quy định tại Hiệp định, bảo vệ tối đa lợi ích quốc gia, đóng góp tích cực, cụ thể trong việc chống, trốn tránh thuế đối với các giao dịch qua biên giới. 2.3 Sử dụng công cụ thuế như các giải pháp cấp bách nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội Giai đoạn từ 2006 đến nay đã chứng kiến một số năm tình hình kinh tế thế giới diễn biến nhanh, phức tạp và khó lường, khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đã tác động trực tiếp đến kinh tế nước ta, làm cho sản xuất, kinh doanh và xuất khẩu giảm  sút, ảnh hưởng trực tiếp đến việc làm và đời sống nhân dân. Quốc hội và Chính phủ đã sử dụng công cụ thuế như các giải pháp cấp bách nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội. Ví dụ như năm 2008 được coi là năm khó khăn đầu tiên trong giai đoạn 2006 đến nay. Để thực hiện được các mục tiêu tổng quát và các giải pháp của kế hoạch năm 2009, trên cơ sở Nghị quyết Quốc hội, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 30/2008/NQ-CP về những giải pháp cấp bách nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội. Trong số các giải pháp được nêu trong Nghị quyết 30/2008/NQ-CP thì các giải pháp sử dụng chính sách tài chính thông qua công cụ thuế là đáng chú ý nhất, có tác động lớn tới hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động xuất khẩu. Bên cạnh đó, năm 2012 cũng được coi là năm khó khăn nhất của nền kinh tế Việt Nam trong nhiều năm trở lại đây. Trong tình hình này, Quốc hội và Chính phủ cũng đã ban hành các nghị quyết điều hành nền kinh tế, trong đó, chính sách thuế tiếp tục được sử dụng là công cụ mạnh mẽ trong việc khắc phục các khó khăn hiện tại của của nền kinh tế, tháo gỡ khó khăn cho tổ chức, cá nhân, từng bước phục hồi nền kinh tế, lấy lại sự tăng trưởng cần thiết. Việc thực hiện nghiêm túc, quyết liệt các giải pháp chính sách thuế theo tinh thần nghị quyết của Quốc hội và Chính phủ trong những năm khó khăn của giai đoạn 2006 đến nay đã mang lại những kết quả bước đầu trong việc ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội: giúp doanh nghiệp có thể sử dụng vốn đầu tư cho sản xuất kinh doanh (số tiền phải nộp thuế được giữ lại sử dụng làm vốn kinh doanh) trong thời gian giãn thời hạn nộp thuế; tạo điều kiện các thành phần kinh tế tiếp cận vốn ngân hàng hiệu quả, bước đầu giúp doanh nghiệp, hộ sản xuất kinh doanh duy trì hoạt động, giảm chi phí, tăng khả năng cạnh tranh và giải quyết được việc làm cho người lao động, từ đó giải quyết được nhiều vấn đề kinh tế xã hội. Điều này càng cho thấy, công cụ thuế ngày càng đóng vai trò quan trọng và được sử dụng như những giải pháp cấp bách trong điều hành kinh tế xã hội ở nước ta hiện nay. 2.4 Kết quả thu Ngân sách Nhà nước giai đoạn 2006 đến nay Trong giai đoạn từ 2006 đến nay, ngành thuế đã hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ thu Ngân sách Nhà nước hàng năm. Kết quả cụ thể như sau: Giai đoạn từ 2006 - 2010, cơ cấu thu ngân sách Nhà nước được cải thiện theo hướng tích cực đảm bảo tính ổn định, bền vững của ngân sách Nhà nước, nguồn thu từ sản xuất kinh doanh trong nước tăng dần qua các năm và ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong tổng thu ngân sách Nhà nước thể hiện qua tỷ trọng các khoản thu chủ yếu trong tổng thu ngân sách Nhà nước, cụ thể: thu nội địa (không kể thu từ dầu thô) năm 2010 là 63,4% (năm 2006 là 52%); thu từ dầu thô năm 2010 là 12,4% (năm 2006 là 29,8%). Tỷ trọng thu từ khu vực sản xuất kinh doanh trong tổng thu nội địa (không kể thu từ dầu thô và tiền sử dụng đất) ngày càng tăng, năm 2010 là 78,3% (năm 2006 là 72,6%). Cơ cấu thu theo thành phần kinh tế trong tổng thu nội địa (không kể thu từ dầu thô và tiền sử dụng đất) có thay đổi: thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước năm 2010 là 35,8% (năm 2006 là 35,7%); thu từ khu vực ngoài quốc doanh năm 2010 là 22,4% (năm 2006 là 17%); thu từ doanh nghiệp đầu tư nước ngoài năm 2010 là 20,1% (năm 2006 là 19,9%). Tỷ trọng các khoản thu từ thuế và phí, lệ phí trong tổng thu ngân sách Nhà nước năm 2010 là 91,3% (năm 2006 là 90,9%); tỷ trọng các khoản thu từ những sắc thuế mang tính ổn định như thuế TNDN, thuế GTGT (bao gồm cả thuế GTGT hàng nhập khẩu), thuế TNCN trong tổng thu ngân sách ngày càng tăng, tỷ trọng thu từ 3 sắc thuế này trong tổng thu ngân sách năm 2010 là 49,4% (năm 2006 là 34%). Trong các năm 2011, 2012, thu ngân sách nhà nước do ngành thuế quản lý tiếp tục tăng bất chấp tình hình kinh tế khó khăn. Điều này khẳng định, ngành Thuế ngày càng thực hiện tốt hơn công tác quản lý nguồn thu thuế. Cụ thể, năm 2011, thu ngân sách Nhà nước do ngành Thuế quản lý đạt khoảng 540.780 tỷ đồng, tăng gần 27,7% so với 2010 và năm 2012 dự kiến đạt khoảng 607.840 tỷ đồng, tăng 12,4% so với năm 2011. Kết quả đạt được trong giai đoạn từ năm 2006 đến 2012 tiếp tục là tiền đề để ngành Thuế thực hiện tốt các nhiệm vụ được giao trong thời gian tới. VI. Những danh hiệu thi đua của ngành thuế 1. Giai đoạn 1990-2000          Với bề dầy thành tích đã đạt được hàng năm, ngành thuế luôn xứng đáng là lực lượng xung kích trên mặt trận bảo đảm nguồn thu tài chính quốc gia ngày càng tăng, Nhà nước đã tặng thưởng cho tập thể, cá nhân trong ngành thuế: - 01 Huân chương Độc lập hạng Nhất; - 01 Huân chương lao động hạng Nhất cho đông chí Tổng cục trưởng Trần Xuân Thắng ; - 13 Huân chương lao động hạng Nhì; - 139 Huân chương lao động hạng Ba; - 09 năm liền Thủ tướng Chính phủ đã tặng thưởng cho ngành Thuế lá cờ dẫn đầu phong trào thi đua của ngành Tài chính. - 600 đơn vị, cá nhân được Bộ Tài Chính, UBND tỉnh và Tổng cục thuế khen thưởng hàng năm - Toàn ngành thuế đã có 213 cá nhân được công nhận là chiến sĩ thi đua ngành tài chính, 397 chiến sĩ thi đua ngành thuế. 2. Giai đoạn 2001-2005 Năm 2005, ngành Thuế cả nước đã tổ chức nhiều hoạt động nhằm đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, động viên cán bộ, công chức ngành Thuế và tổ chức, cá nhân nộp thuế thi đua phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ công tác thuế. Cục thuế tỉnh, thành phố trong cả nước đã tiến hành tổ chức Đại hội điển hình tiên tiến cấp cơ sở; Tổ chức hội nghị Tuyên dương ĐTNT; Hội nghị Đại biểu nữ công chức “Giỏi việc nước, đảm việc nhà”; qua đó đã lựa chọn được nhiều tập thể, cá nhân tiêu biểu xuất sắc đi dự Đại hội điển hình tiên tiến ngành Thuế toàn quốc lần thứ II (tháng 7/2005). Đại hội đã tuyên dương tập thể, cá nhân được các cấp khen thưởng, trong đó: - 07 tập thể và 01 cá nhân được phong tặng danh hiệu Anh hùng lao động, bao gồm: + Tổng cục thuế + Cục thuế thành phố Hồ Chí Minh + Cục thuế tỉnh Quảng Ninh + Cục thuế tỉnh Khánh Hoà + Cục thuế tỉnh Bình Dương + Cục thuế tỉnh Lâm Đồng + Cục thuế tỉnh An Giang + Bà Nguyễn Thị Phương Dung - Cục trưởng Cục Thuế TP. Hồ Chí Minh - 01 Huân chương Hồ Chí Minh (2004): Tổng cục thuế Nhà nước - 01 Huân chương Độc lập Hạng nhất : Tổng cục Thuế Nhà nước - 01 Huân chương Độc lập hạng Ba: Cục thuế Quảng Ninh - 10 Huân chương lao động hạng Nhất; - 67 Huân chương lao động hạng Nhì cho Tập thể và 11 Huân chương lao động hạng Nhì cho cá nhân - 310 Huân chương lao động hạng Ba; - 49 Chiến sỹ thi đua toàn quốc; - 978 Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ; - 16 Cờ thi đua của Chính phủ; - 9 Cờ thi đua dẫn đầu từng mặt công tác của Tổng cục Thuế; - 1.650 Bằng khen của Bộ tài chính; - 1.039 CSTĐ ngành Tài chính; - 9.706 Bằng khen của Tổng cục thuế; - 1.318 CSTĐCS Tổng cục Thuế; - 500 nữ công chức được Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế tặng Bằng khen về thành tích “Giỏi việc nước, đảm việc nhà”. 3. Giai đoạn 2006 - 2011 Giai đoạn từ năm 2006 đến 2011 là giai đoạn mà nền kinh tế trong và ngoài nước có nhiều biến động không thuận lợi do ảnh hưởng tiêu cực của hai cuộc khủng hoảng kinh tế khu vực và toàn cầu, suy thoái kinh tế trong nước và những thách thức khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2007, tình hình biến đổi khí hậu toàn cầu, sự biến động bất lợi của giá cả hàng hóa trên thị trường thế giới, các loại dịch bệnh và thiên tai liên tục xảy ra trong phạm vi cả nước… điều này ảnh hưởng rất lớn tới công tác quản lý thuế của ngành Thuế. Tuy nhiên, được sự quan tâm, chỉ đạo của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Bộ Tài chính, sự phối hợp chặt chẽ của các ngành, các cấp; sự nỗ lực khắc phục khó khăn để phát triển sản xuất kinh doanh và nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật thuế của đại bộ phận các tổ chức, cá nhân; sự nỗ lực phấn đấu của cán bộ, công chức ngành thuế, về cơ bản ngành Thuế đã hoàn thành các mục tiêu đã đề ra. Những kết quả đó đã được Đảng, Nhà nước khen thưởng, biểu dương: - 06 Huân chương Độc lập hạng Ba; - 31 Huân chương lao động hạng Nhất; - 85 Huân chương lao động hạng Nhì; - 880 Huân chương lao động hạng Ba; - 1.956 Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ; - 42 Chiến sỹ thi đua toàn quốc; - 51 Cờ thi đua của Chính phủ; - 10.400 Bằng khen của Bộ Tài chính; - 74 Cờ thi đua của Bộ Tài chính; - 2.777CSTĐ ngành Tài chính; - 30.572 Giấy khen của Tổng cục Thuế; - 10.238 Tập thể lao động Xuất sắc; –––––––––––––––––

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc7_cd_7_ls_thue_vn_ccm2013_tr_52_131_8791.doc
Tài liệu liên quan