Các học thuyết kinh tế

Lý thuyết của Rostow có căn cứ thực tế không thể chối cãi nhưng có những hạn chế sau: - Tăng trưởng là một quá trình liên tục chứ không phải đứt đoạn nên không thể phân chia thành những giai đoạn chính xác như vậy. Mặt khác, sự tăng trưởng và phát triển ở một số nước không nhất thiết phải giống phân chia 5 giai đoạn như trên, câu hỏi đặt ra là “Tại sao cất cánh lại xảy ra ở nước này mà không xảy ra ở nước khác?” Lý thuyết chưa giải thích được điều đó. - Cách tiếp cận không lấy tính đặc thù của mỗi nước làm điểm xuất phát. - Lý thuyết Rostow chỉ nghiên cứu sự tăng trưởng chứ chưa đi sâu nghiên cứu và phân tích phát triển kinh tế.

doc25 trang | Chia sẻ: aloso | Ngày: 22/08/2013 | Lượt xem: 2241 | Lượt tải: 2download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Các học thuyết kinh tế, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
C là tư bản tăng lên trong thời kỳ đó so với mức tăng của sản phẩm cùng kỳ. Sản xuất là tiết kiệm C1 là tư bản lúc đầu kỳ nghiên cứu C2 là tư bản vào cuối kỳ Nhưng tiết kiệm là đại lượng khó xác định chính xác trước được, như vậy vấn đề là làm sao xác định được tốc độ tăng trưởng giá trị, trong đó tiết kiệm thực sản xuất cần phải bằng đầu tư cần thiết. Ông ra khái niệm tăng trưởng có bảo đảm theo phương trình sau: GW x Cr= Sản xuất Trong đó: GW là tốc độ tăng trưởng có bảo đảm, đáp ứng được lợi ích của người sản xuất, nghĩa là tốc độ tăng trưởng theo sản phẩm đầu ra tạo được điều kiện cho quá trình tiếp tục diễn ra. Cr là hệ số cơ bản cần thiết. Trong lý thuyết tăng trưởng của mình Harrod – R. Harrod chủ yếu nghiên cứu và đề xuất quan điểm về mối quan hệ tăng trưởng và các nhu cầu về vốn cơ bản. Tư tưởng cơ bản của thuyết cho rằng mức tăng trưởng của bất kỳ đơn vị kinh tế nào, hay toàn bộ nền kinh tế quốc dân, phụ thuộc chặt chẽ vào tổng số tư bản đầu tư cho đơn vị kinh tế đó. Trong điều kiện kinh tế thị trường, về cơ bản thu nhập được chia làm thành 2 phần: Phần dành cho tiêu dùng trực tiếp và phần dành cho tái đầu tư gián tiếp hoặc trực tiếp. Với giả định toàn bộ tiết kiệm được dành cho đầu tư thì tổng đầu tư bằng tổng tiết kiệm. Như vậy, mối quan hệ tăng trưởng và đầu tư được biểu hiện thành mối quan hệ giữa mức tăng trưởng và mức tiết kiệm. Nói cách khác tốc độ của sản xuất tỷ lệ thuận với tỷ lệ tiết kiệm trên tổng sản phẩm kinh tế quốc dân. Lý thuyết R. Harrod – Dornar cho rằng tư bản được tạo ra bằng đầu tư dưới dạng nhà máy và thiết bị là nguồn xác định chính của sự tăng trưởng và số tiền tiết kiệm của dân cư, các công ty là nguồn để có vốn đầu tư. Để đo năng lực sản xuất tăng thêm hay khả năng tăng trưởng, người ta dùng chỉ số gia tăng tư bản – đầu ra là 2:1. Chỉ số này thường được dùng để lựa chọn việc quyết định đầu tư cho loại sản phẩm hay ngành nào đó trong mỗi giai đoạn ở một thời điểm nhất định. b/ Nhận xét lý thuyết: Lý thuyết Harrod – Dornar về thực chất chỉ gói gọn trong khái niệm tăng trưởng kinh tế. Dù vậy, lý thuyết này vẫn còn ảnh hưởng lớn đến các nước đang phát triển muốn nhanh tốc độ tăng trưởng của mình, bởi nó đã nhắm trúng vấn đề thiết yếu nhất và cũng nan giải nhất ở đây là vốn thất nghiệp. Đi theo hướng này là một loạt các chính sách ở nhiều quốc gia nhằm vào việc nâng cao mức độ tích lũy trong tổng sản phẩm quốc dân đang tập trung tăng nguồn vốn đầu tư cho nền kinh tế. Ưu điểm: Chỉ số gia tăng tư bản – Đầu ra: vận dụng đã đề ra kế hoạch cho sự ưu tiên phát triển của một ngành hay một khu vực nào đó của nền kinh tế quốc dân, dựa vào đó cũng có thể đưa ra những chính sách điều chỉnh cơ cấu kinh tế khi xét tới mối tương quan giữa nguồn tài chính và nguồn nhân lực hiện có. Hạn chế: Nếu như xem xét nó trên các nước đang phát triển, vì những nước này có cái vòng lẩn quẩn (thu nhập thấp, tiết kiệm thấp, đầu tư thấp, tích lũy thấp, năng suất lao động thấp...). Mặt khác ở các nước đang phát triển thị trường tài chính và thị trường hàng hóa hoạt động yếu ớt. Rõ ràng là toàn bộ tiết kiệm sẽ không được đưa ra đầu tư hết. Lý thuyết Harrod – Dornar không giải thích rõ một số điểm khác nhau căn bản trong sự tăng trưởng giữa các quốc gia, trong khi mọi người muốn biết tại sao lại có sự khác nhau rất lớn giữa các nước, các khu vực về chỉ số gia tăng tư bản – đầu ra. a/ Trình bày nội dung cơ bản lý thuyết về nền ktế hỗn hợp của trường phái chính hiện đại. b/ Cơ chế kinh tế của nước ta hiện nay có phải là cơ chế kinh tế hỗn hợp không? Vì sao? c/ Ý nghĩa rút ra từ sự nghiên cứu lý thuyết này trong quá trình chuyển đổi cơ chế kinh tế nước ta. a/ Nội dung cơ bản lý thuyết về nền kinh tế hỗn hợp của trường phái chính hiện đại: Về cơ cấu thị trường: Nói đến thị trường là nói đến sự cạnh tranh giữa các chủ thể kinh tế để xác định giá cả hàng hóa. Không có sự cạnh tranh này thì không có thị trường. Thị trường đồng nghĩa với tự do kinh tế, tự do trao đổi, tự do xác định giá cả. Thị trường có vai trò tự động điều chỉnh hành vi của mỗi cá nhân, gia đình và doanh nghiệp. Lời ích kinh tế là động lực của cá nhân hay doanh nghiệp, cơ chế thị trường là hình thức tổ chức kinh tế. Trong đó cá nhân người ta tiêu dùng và các nhà kinh doanh tác động lẫn nhau qua thị trường để xác định 3 vấn đề trung tâm của tổ chức kinh tế là gì? Cho ai? Như thế nào? Cơ chế thị trường không phải là hỗn hợp mà là một trật tự kinh tế. Sự biến động giá cả làm cho trạng thái cân bằng cung-cầu thường xuyên biến đổi và ngược lại. Lợi nhuận là động lực chi phối mọi hoạt động sản xuất kinh doanh. Vì vậy hệ thống thị trường luôn phải dùng lỗ và lãi để quyết định 3 vấn đề trung tâm của hoạt động kinh tế. Theo trường phái chính hiện đại thì nền kinh tế chính trị thường có những nét đặc trưng cơ bản sau: Nó thông qua sự tác động qua lại của người tiêu dùng và người sản xuất mà tuổi hoạt động tùy theo lợi ích từng phía, để thỏa mãn người tiêu dùng và lợi nhuận của người sản xuất được tối đa hóa. Những tác động này nằm trong một thị trường tự do mà giá cả độc lập như một người trung gian. Ở đây người tiêu dùng và xí nghiệp được tự do lựa chọn, nhà nước không can thiệp vào. Sự tối đa hóa lợi ích người tiêu dùng và doanh thu hoặc lợi nhuận của doanh nghiệp không bị biến dạng. Vì vậy, người tiêu dùng phải cẩn thận, định giá đúng kẻo bị thiệt thòi. Cạnh tranh là động lực cơ bản có tính hiệu quả trong sản xuất. Tín hiệu giá cả với người sản xuất là nhu cầu của người tiêu dùng. Cạnh tranh là để bảo đảm rằng cái mà người tiêu dùng muốn có được sản xuất ra một cách hiệu quả nhất. Lợi nhuận là động lực cá nhân hay doanh nghiệp. Giá cả của bất cứ sản phẩm nào cũng đều phụ thuộc vào cung – cầu của sản phẩm đó trên thị trường. Vì vậy, nó có thể thực hiện mục tiêu của người tiêu dùng và người sản xuất. Kinh tế thị trường chịu điều khiển của hai ông vua: Người tiêu dùng thống trị thị trường vì họ bỏ tiền ra mua hàng do doanh nghiệp sản xuất ra. Kỹ thuật: hạn chế người tiêu dùng, nhu cầu phải chịu theo cung ứng của người kinh doanh. Lý thuyết cung – cầu là lý thuyết trung tâm của trường phái chính hiện đại. Quy luật cung – cầu là mối liên hệ tác động qua lại lẫn nhau giữa cung và cầu và việc hình thành giá cả. Khi các đường cung-cầu được vạch ra, điểm giao tuyến của chúng xác định giá cân đối này đều dẫn đến kết quả cung lớn hơn cầu, do đó kéo giá xuống. Ngược lại bất kỳ giá nào dưới mức cân đối này đều dẫn đến kết quả là sản lượng cầu vượt qua số lượng cung. Vì vậy, giá lên (tranh nhau mua). Ở mức cân đối không có sự thiếu hụt hay dư thừa sản phẩm. Sự cân bằng giá cả thị trường xảy ra tại mức giá cả và khối lượng tại đó các lực lượng hoạt động trên thị trường cân đối nhau. Tại đó, số lượng người mua bằng số lượng người bán. Vai trò của nhà nước: Trường phái này cho rằng chính phủ tốt nhất là chính phủ quản lý ít nhất. Tạo môi trường ổn định cho các doanh nghiệp kinh doanh. Thực hiện các hoạt động phúc lợi công cộng, đưa tiêu chuẩn về sức khỏe, an toàn lao động, trợ cấp người già, tàn tật. Chính phủ dành những đặc quyền kinh tế cho một số nhóm đặc biệt thông qua trợ cấp có đặc biệt, chương trình ứng dụng, hỗ trợ giá, thuế... Duy trì cạnh tranh, nghiêm cấm các công ty độc quyền không được điều chỉnh các việc buôn bán, và sử dụng lao động bất công. a/ Trình bày nội dung cơ bản lý thuyết kinh tế của John Mayvard Keynes và điều chỉnh kinh tế theo lý thuyết Keynes. b/ Nhận xét về lý thuyết này. c/ Ý nghĩa rút ra từ sự nghiên cứu lý thuyết của John Mayvard Keynes. a/ Những nội dung cơ bản lý thuyết kinh tế Keynes: Vai trò kinh tế của nhà nước: Keynes đã bác bỏ quan điểm giá cả và tiền lương sinh hoạt, để tự cân đối cung – cầu của trường phái kinh tế cổ điển và tân cổ điển. Ông cho rằng một nền kinh tế không có khả năng tự động điều chỉnh một cách hoàn hảo. Theo ông trong điều kiện một nền kinh tế mới thì giá cả và tiền lương là cân nhắc. Vì thế thị trường không còn khả năng tự điều chỉnh. Các tổ chức độc quyền và nhà nước đã can thiệp vào giá cả mặt hàng và sự đấu tranh của công đoàn dẫn đến các thỏa ước lao động, chính nó ràng buộc mức tiền lương. Vì vậy, vai trò kinh tế của nhà nước là hết sức quan trọng, để chống lại tình trạng khủng hoảng, suy thoái và thất nghiệp. Vai trò của nhà nước sẽ làm tăng mức sản lượng của nền kinh tế gần với mức sản lượng tiềm năng. Thất nghiệp, suy thoái: Theo ông tình trạng thất nghiệp kéo dài do thiếu hụt một số an hữu hiệu, mức cầu bảo đảm lợi nhuận cho các nhà đầu tư, sỡ dĩ có tình trạng này là do: Khuynh hướng tiết kiệm ngày càng gia tăng, nó mang tính chất tâm lý, biểu hiện trong từng cá nhân, tổ chức XH và ngay cả trong các doanh nghiệp. Khuynh hướng tiết kiệm được biểu hiện như sau: Khi sản xuất tăng lên thì thu nhập tăng lên, thu nhập chia làm hai bộ phận là tiêu dùng và tiết kiệm (để dự phòng cho tương lai). Khi thu nhập tăng thì bộ phận tiêu dùng có thể tăng tuyệt đối và giảm tương đối. Khuynh hướng tiết kiệm trong tiêu dùng cá nhân làm cho cầu tiêu dùng cá nhân tăng chậm hơn là cung. Cầu đầu tư cũng có khả năng tăng chậm hơn do cầu tiêu dùng chậm, lãi suất ngân hàng thường cố định ở mức tương đối cao trong khi tỷ suất lợi nhuận có xu hướng giảm sút. Vì thế tổng cầu giảm sút do với tổng cung. Giải pháp chống suy thoái và thất nghiệp: theo ông đó là hai căn bệnh chủ yếu của nền kinh tế, vì thế tất cả mọi nỗ lực của XH là làm sao giảm suy thoái và thất nghiệp. Ông đề ra giải pháp là tăng mức cầu, vì theo ông tổng cầu tăng ảnh hưởng đến tổng cung sẽ làm giảm suy thoái và thất nghiệp. Cách làm tăng mức cầu rD cần có sự can thiệp của nhà nước: Sự can thiệp của nhà nước sử dụng công cụ chính là chủ yếu (thu thuế, chi ngân sách). Theo ông phần chi của chính phủ là công cụ chính yếu bởi vì khi chi tiêu chính phủ tăng làm kích thích mang tính đẩy chuyển để làm tăng tổng cầu nói chung. Sự tăng tổng cầu tác động đến tổng cung cũng theo một tác động dây chuyền. Lý thuyết mô hình số nhân: Số nhân là hệ số bằng số phản ánh mức độ gia tăng của sản lượng do kết quả của việc gia tăng, đầu tư hay là con số mà ta phải nhận sự thay đổi đầu tư với nó, để xác định sự thay đổi trong tổng sản lượng. Y=L/MPS x L hay Y= I/(I-MPC) x I Với rY: số giá của sản lượng r I: số giá của đầu tư MPS: tiết kiệm trên hạn mức MPC: tiêu dùng trên hạn mức Số nhân tỷ lệ thuận với mức tiêu dùng trên hạn mức và tỷ lệ nghịch với mức tiết kiệm trên hạn mức. Ngoài ra Keynes còn đề nghị một chính sách tiền lương tối thiểu vì tiền lương giảm sẽ dẫn đến khối lượng tiền tiết kiệm giảm, sẽ khuấy động nền kinh tế (lương thấp: chủ tư bản sẽ thuê được nhiều công nhân: tiền lương công nhân không tiết kiệm được đem ra tiêu dùng hết). Điều chỉnh kinh tế theo thuyết Keynes: * Điều chỉnh bằng lãi suất: Theo Keynes lãi suất là phần trả công cho việc không sử dụng tiền mặt trong một thời gian xác định nào đó, lãi suất sẽ tỷ lệ nghịch với ý muốn giữ tiền mặt của dân cư, hai yếu tố ảnh hưởng đến lãi suất. Khối lượng tiền tệ trong lưu thông tỷ lệ nghịch với lãi suất, Keynes chủ trương đưa thêm tiền vào lưu thông, làm giảm lãi suất thực tế, sẽ kích thích dân cư. Sự ưa chuộng tiền mặt trong nền kinh tế do: động lực giao dịch, động lực dự phòng và động cơ đầu tư. è lãi suất là một khuynh hướng tâm lý cao độ, có tính quy ước, chính phủ có thể dùng chính sách điều chỉnh lãi suất để tác động vào kinh tế. * Sử dụng hệ thống tài chính, tiền tệ nhằm kích thích lòng tin, tính lạc quan và tính tiêu cực đầu tư của các nhà kinh doanh. Chủ trương: Tăng khối lượng tiền tệ vào lưu thông để giảm lãi suất thực tế cho vay. Khuyến khích các nhà tư sản mở rộng quy mô vay vốn mở rộng đầu tư. Dùng lạm phát có kiểm soát. Nhà nước có thể in thêm tiền để bù đắp thân hụt ngân sách, mở rộng đầu tư và bảo đảm chi tiêu chính phủ. * Sử dụng công cụ thuế: Tăng thuế với người lao động để giảm phần tiết kiệm từ thu nhập của họ và đưa phần này vào đầu tư của nhà nước, Giảm thuế cho các nhà tư bản kinh doanh, nhằm khuyến khích cho các nhà tư bản kinh doanh và nâng cao hiệu quả đầu tư. * Mở rộng các hoạt động đầu tư của nhà nước kể cả các hoạt động đầu tư như: sản xuất vũ khí, quân sự hóa nền kinh tế, chiến tranh... đều tốt vì nó tạo công ăn việc làm, tạo thu nhập, nâng cao tiêu dùng và chống được khủng hoảng kinh tế. * Mở rộng khuyến khích các hoạt động tiêu dùng nhất là tiêu dùng cá nhân. b/ Ý nghĩa rút ra từ lý luận nghiên cứu của Keynes: Điều nổi bật đây là lý thuyết chống suy thoái được áp dụng hữu hiệu trong nền kinh tế bị suy thoái, đã được các nhà tư bản ứng dụng trong nhiều thập kỷ. Lần đầu tiên trong kinh tế học tư bản Keynes phân tích một cách chặt chẽ cơ sở khách quan cho sự can thiệp của nhà nước vào lĩnh vực kinh tế. Lý thuyết của ông được coi là lý thuyết kinh tế vĩ mô hiện đại và được áp dụng rộng rãi trên toàn thế giới và là nền tảng lý thuyết kinh tế vĩ mô hiện đại. a/ Phân tích lý thuyết của A. Lewis. Nhận xét về lý thuyết này. b/ Nền kinh tế nước ta hiện nay có phải là kinh tế “nhị nguyên” không? Tại sao? a/ Lý thuyết của A. Lewis. Nhận xét: Cho rằng, các nước chậm phát triển có những nét hoàn toàn đặc thù mà bất cứ một lý thuyết kinh tế nào giải quyết sự tăng trưởng và phát triển thuần túy chỉ dựa vào vấn đề của kinh tế thị trường nói chung đều vấp phải một giới hạn không vượt qua được. Ông nhận định rằng, trong các nền kinh tế thế giới thứ 3, các cơ chế thị trường thường xuyên không họat động, hoặc hoạt động quá yếu ớt, dung lượng thị trường nhỏ bé, quan hệ cung-cầu đều hạn chế và không có sự cạnh tranh. Vì thế ông đưa ra một lý thuyết để lý giải về kinh tế của những nước chậm phát triển. Theo Lewis trong nền kinh tế của các nước đang phát triển có 2 hệ thống song song tồn tại, đó là hệ thống kinh tế truyền thống và hệ thống kinh tế du nhập (thường là hệ thống kinh tế TBCN tiên tiến). Ở khu vực kinh tế truyền thống có nét đặc trưng là kỹ thuật sản xuất lạc hậu và năng suất lao động thấp. Vì thế yêu cầu đặt ra là nhanh chóng chuyển khu kinh tế truyền thống sang khu kinh tế hiện đại bằng con đường công nghiệp hóa để khởi động cho sự tăng trưởng. Như vậy, công nghiệp hóa khu vực kinh tế truyền thống được coi là sự khởi động, là yếu tố cốt lõi cho sự tăng trưởng. Trong khu vực kinh tế truyền thống thì sản xuất nông nghiệp là chủ yếu. Song song với lao động năng suất kém là nạn dư thừa lực lượng lao động (có thể giảm bớt số lao động hiện có mà không hề giảm sút quy mô sản xuất và khối lượng sản phẩm làm ra). Vì thế theo ông, số lao động dư thừa đó nên chuyển bớt sang khu vực kinh tế hiện đại, cho phép đạt được sự tăng trưởng kinh tế trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Lewis đi đến kết luận là ở khu kinh tế truyền thống luôn tồn tại một số lượng lao động muốn có việc làm và hễ ở đâu có thu nhập cao thì số lao động này sẽ sẵn sàng chuyển đến đó làm việc. Bên cạnh khu vực kinh tế truyền thống là khu vực kinh tế du nhập: là khu vực sản xuất TBCN hiện đại, sử dụng lao động ăn lương. Kỹ thuật công nghệ hiện đại, người lao động tạo ra một lượng giá trị lớn hơn mức lương họ hưởng. Do vậy, nhà tư bản có điều kiện để tăng lượng vốn tích lũy, trên cơ sở đó tăng đầu tư, đổi mới kỹ thuật sản xuất. Theo ông, tiền lương của người lao động trong khu vực này tương đối ổn định do thu nhập của người lao động không thể thấp hơn chi phí để tái sản xuất ra sức lao động. Nếu không thì quá trình sản xuất tiếp theo sẽ không thực hiện được và người lao động cũng không làm việc ở đây nữa. Mặc khác nó cũng không đòi hỏi cao hơn chi phí để tái sản xuất lao động trong điều kiện nhất định, vì sự tồn tại của đội quân lao động dự trữ đông đảo ở nông thôn, đội quân luôn sẵn sàng từ bỏ ruộng đồng đi làm việc mới ở thành thị, ở khu vực kinh tế hiện đại. Cũng chính vì lý do đó tạo nên sức ép ngăn chặn việc tăng lương ở khu vực này. Chính lao động ở khu vực du nhập hiện đại luôn tạo ra một lượng giá trị lớn hơn mức lương mà họ được hưởng với sự ổn định của đồng lương đó sẽ cho phép khu vực này được sự mở rộng sản xuất không ngừng à tăng về quy mô à tăng về quy mô tích lũy à đầu tư tăng à mở rộng sản xuất, đổi mới kỹ thuật à tăng trưởng. Theo thuyết này, đối với các nước đang phát triển, để đạt được tăng trưởng và phát triển phải tập trung vào khu vực kinh tế hiện đại, mà không cần quan tâm đến khu vực kinh tế truyền thống vốn là khu vực phát triển trì trệ. Theo Lewis, việc giải quyết tình trạng trì trệ của khu vực kinh tế truyền thống hoàn toàn phụ thuộc vào việc giải quyết tăng trưởng ở khu sản xuất hiện đại, có nghĩa là, để tạo ra sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế quốc dân thì tác động chủ yếu là vào khu vực sản xuất hiện đại. Và nhịp độ tăng trưởng, phát triển của khu vực này cũng ảnh hưởng đến nhịp độ tăng trưởng, phát triển của toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Nhận xét: Những câu hỏi đặt ra là: Khi nghiên cứu lý thuyết này liệu có thể di chuyển lao động, cơ cấu kinh tế liên tục từ nông nhiệp sang công nghiệp cho đến khi trở thành nền kinh tế phát triển được không? Chắc chắn là không bởi vì sự di chuyển này gắn liền với nhiều yếu tố liên quan như yêu cầu kỹ thuật, tay nghề của người lao động, phong tục, tập quán, điều kiện sinh sống... Mặt khác, liệu nếu tập trung toàn bộ để phát triển khu vực sản xuất hiện đại thì nền kinh tế có tăng trưởng như mong muốn không? Rõ ràng là không vì ở những nước đang phát triển thì giá trị sản phẩm của khu vực kinh tế hiện đại thì kỹ thuật và năng suất lao động vẫn ở trình độ thấp. b/ Nền kinh tế nước ta nước ta có phải là nền kinh tế “nhị nguyên” không? Vì sao? Nền kinh tế Việt nam hiện nay không phải là nền kinh tế nhị nguyên mà là nền kinh tế chuyển sang kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN. Chúng ta không hề từ bỏ lĩnh vực truyền thống là sản xuất nông nghiệp để đi đến sản xuất công nghiệp hiện đại mà phát triển nông nghiệp một cách có kế hoạch, cân đối với cơ cấu nền kinh tế quốc dân. Nông nghiệp vẫn là mặt trận chủ lực của chúng ta. Chúng ta cần có nông nghiệp để xuất khẩu lúa gạo, lấy tiền đem về nguyên vật liệu, máy móc để phát triển nông nghiệp... tạo tiền đề tăng trưởng cho kinh tế Việt Nam. a. Phân tích và so sánh lý luận giá trị của William Petty với lý luận giá trị của trường phái thành Viene (Áo). b. Đưa ra nhận xét về những lý luận trên. c. Ý nghĩa từ sự nghiên cứu những lý luận trên. a. Phân tích - so sánh lý luận giá trị: William Petty: 1. Ông nêu ra nguyên lý về giá trị lao động khi bắt đầu phân tích nguồn gốc, đánh thức để tăng cường ngân khố và sử dụng hợp lý nguồn tài chính. Đưa ra luận điểm đánh thuế vào lợi nhuận thương nghiệp và đất đai trên thực tế thông qua tiền, nêu bật vấn đề giá trị. 2. Chia giá cả ra làm 2 loại: giá cả chính trị (giá cả thị trường) và giá cả tự nhiên (giá trị bên trong). Giá cả chính trị phụ thuộc vào tình trạng ngẫu nhiên do đó khó hiểu rõ được. Giá cả tự nhiên do hao phí quyết định và năng suất lao động có ảnh hưởng đến mức hao phí đó. Petty căn cứ vào tỷ lệ hao phí lao động trong sản xuất hàng hóa thường và hao phí lao động trong sản xuất tiền tệ để tính giá cả tự nhiên... Cùng một số lượng lao động như nhau mà khai thác được 2 ounce bạc hoặc 1 burel lúa mì thì 1 burel lúa mì giá 2 ounce bạc. Do đó, Petty cho rằng lao động là cơ sở của giá cả tự nhiên. 3. Cơ sở của giá trị trao đổi là: hao phí lao động, thời gian lao động. Tỉ lệ trao đổi tùy thuộc vào hao phí lao động. Trường phái thành Viene: 1. Cho rằng: mọi sự kiện kinh tế đều phải được xem là những sự kiện thuộc về con người, do con người đóng vai trò chủ động. Muốn hiểu được thấu đáo các sự kiện tâm lý phải nghiên cứu tâm lý con người. Con người có những nhu cầu thiết yếu cần được thỏa mãn vì thế mới có hoạt động kinh tế. Khác với Petty, trường phái thành Viene cho rằng giá trị của cải và vật phẩm không bắt nguồn và tùy thuộc ở lao động mà phụ thuộc vào tính chất quan trọng nhiều hay ít do sự xét đoán chủ quan của mỗi cá nhân. 2. Chia giá trị sử dụng ra 2 trường hợp: - Tùy theo việc sử dụng giá trị sử dụng nó để làm gì, đáp ứng nhu cầu nào, mức độ quan trọng ra sao... và tùy theo số lượng hiện có mà vật phẩm có giá trị nhiều hay ít. - Trong những cùng một công dụng, đáp ứng cùng một nhu cầu, giá trị của một đơn vị vật phẩm cũng sẽ khác nhau và giá trị của đơn vị vật phẩm sau cùng sẽ ấn định giá trị chung quanh vật phẩm đó. Một người đang khát nước, ly nước đầu tiên có giá trị rất cao nhưng ly nước thứ 5 thứ 6 có thể không uống được nên giá trị rất thấp, có thể giá trị là 0. Mỗi cá nhân phân chia nhu cầu của mình thành nhiều loại, sắp xếp theo thứ tự căn cứ vào sự quan trọng. Cường độ của một nhu cầu khi được thỏa mãn sẽ giảm dần. Các đơn vị vật phẩm sử dụng cho những cường độ khác nhau sẽ có giá trị khác nhau. Giá trị được tính trên đơn vị vật phẩm cuối cùng. 3. Về giá trị trao đổi quan niệm rằng yếu tố tâm lý đóng vai trò quyết định. Hai cá nhân trao đổi hàng hóa cho nhau bởi họ đều tin vào số họ bỏ ra có giá trị thấp hơn số họ mang về, như vậy khi trao đổi mỗi cá nhân đều căn cứ, tính toán trên nhu cầu, khi nào cảm thấy có lợi họ mới chịu trao đổi. b/ Nhận xét về những lý luận trên: William Petty: Lý thuyết của ông còn ảnh hưởng của chủ nghĩa trọng thương: Ông chỉ thừa nhận lao động khai thác bạc là nguồn gốc của giá trị, còn giá trị của hàng hóa khác chỉ được xác định nhờ quá trình trao đổi với bạc. Trường phái thành Viên: Họ đề cao khía cạnh và vai trò tâm lý của mỗi cá nhân, đây là một hiện tượng có thật trong thực tế trên thương trường. Học thức này phân tích kỹ lưỡng sự tiếp nhận giá trị và giá cả từ phía người tiêu dùng, có ý nghĩa thực tiễn với các nhà doanh nghiệp, quản lý. Trường phái thành Viene chỉ chú ý đến phân tích tâm lý của người tiêu dùng nhưng không đề cập đến vai trò của người sản xuất và người cung ứng. c/ Ý nghĩa nghiên cứu: Cả hai đều có ý nghĩa to lớn, thực tiễn đối với các nhà doanh nghiệp, quản lý trong việc sản xuất và trao đổi hàng hóa. Họ có thể nghiên cứu tâm lý khách hàng để sản xuất một loại vật phẩm nào đó đem lại lợi nhuận cho mình. Ví dụ, vào mùa mưa, việc sản xuất áo mưa cũng nảy sinh nhiều vấn đề quan trọng, muốn sản xuất bán chạy cần phải nghiên cứu tâm lý người tiêu dùng: chất lượng, kích cỡ, màu sắc... a/ Trình bày lý luận lợi nhuận của Adam Smith. Đưa ra những nhận xét về lý luận này. b/ Phân tích và so sánh lý luận địa tô của Adam Smith với lý luận địa tô của David Ricardo. Nhận xét rút ra từ lý luận địa tô của hai ông. a/ Lý luận lợi nhuận của Adam Smith: Adam Smith cho rằng lợi nhuận là khoản khấu trừ thứ hai vào sản phẩm của lao động, không chỉ lao động trong nông nghiệp mà cả trong công nghiệp cũng tạo ra lợi nhuận. Lợi nhuận tăng hay giảm tùy thuộc vào sự giàu có tăng hay giảm của XH. Ông thừa nhận sự đối lập của tiến công là lợi nhuận. Ông nhìn thấy sự cạnh tranh giữa các ngành và thường xuyên thì tỷ xuất lợi nhuận giảm sút. Theo ông, tư bản đầu tư càng nhiều thì tỷ suất lợi nhuận càng thấp. Ngoài ra, ông cũng cho rằng tư bản trong lĩnh vực sản xuất cũng như tư bản trong lĩnh vực lưu thông đều đẻ ra lợi nhuận như nhau. Theo cách giải thích của Adam Smith thì lợi nhuận địa tô lợi tức chỉ là những hình thái khác nhau của giá trị thặng dư. Nhận xét: Không thấy được sự khác nhau giữa giá trị thặng dư và lợi nhuận. Ông cho rằng toàn bộ lợi nhuận là do tư bản đẻ ra. Do không phân biệt được lĩnh vực sản xuất và lưu thông nên ông cho rằng tư bản trong lĩnh vực sản xuất cũng như trong lưu thông đều đem lại lợi nhuận như nhau. Ông coi lợi nhuận trong phần lớn trường hợp chỉ là món tiền thưởng cho việc mạo hiểm và cho lao động khi đầu tư tư bản. Lợi nhuận là một trong những nguồn gốc đầu tiên của mọi thu nhập cũng như của mọi giá trị trao đổi. Một tiến bộ của Adam Smith là nêu được nguồn gốc thật sự của giá trị thặng dư sinh ra từ lao động. b/ Phân tích và so sánh lý luận địa tô của Adam Smith với lý luận địa tô của David Ricardo. Nhận xét rút ra từ hai lý luận trên. Adam Smith: 1/ Khi ruộng đất trở thành sở hữu tư nhân thì địa tô chỉ là khoản khấu trừ thứ nhất vào sản phẩm lao động. Ông coi địa tô như là tiền trả về việc sử dụng đất đai à Độc quyền tư hữu ruộng đất là điều kiện chiếm hữu địa tô. Quy mô địa tô nhiều hay ít là kết quả của giá cả sản phẩm, ông coi địa tô là giá cả của độc quyền. 2/ Ông phân biệt được địa tô và lợi tức do tư bản đầu tư vào đất đai. Theo cách giải thích của ông thì địa tô là hình thái của giá trị thặng dư. 3/ Ông phân biệt được địa tô chênh lệch do độ màu mỡ đất đai nhưng lại không đi sâu vào nghiên cứu vấn đề này. Ông chỉ ra mức độ địa tô trên mảnh đất, ruộng là do thu nhập của mảnh đất ruộng đó đem lại và ông chỉ ra rằng địa tô trên những mảnh ruộng canh tác chủ yếu quyết định địa tô trên ruộng đất trồng cây khác. David Ricardo: 1/ Ông bác bỏ những lý luận địa tô là sản vật của những lực lượng tự nhiên hay do năng suất lao động đặc biệt trong sản xuất nông nghiệp đem lại. Ông cho rằng địa tô là biểu hiện của sự bần cùng, là nguyên nhân của nạn đói. Ông lên án địa tô. 2/ Để giải thích địa tô, ông hoàn toàn dựa vào quy luật giá trị, ông cho rằng địa tô không đi ngược với quy luật giá trị mà đi theo quy luật giá trị. Ông cho rằng giá trị nông sản hình thành trên điều kiện “ruộng đất xấu nhất” vì ruộng đất là yếu tố có giới hạn. Tư bản kinh doanh trên ruộng đất tốt và trung bình thu được nhiều lợi nhuận thì lợi nhuận này phải nộp cho địa chủ, ông phê phán tư tưởng ăn bám của địa chủ, thu địa tô qua nhân danh quyền sở hữu ruộng đất. 3/ Ông thừa nhận cái gọi là địa tô chênh lệch, nghĩa là sự chênh lệch giữa các vùng đất tốt và xấu khác nhau. Nhận xét: Adam Smith còn có những hạn chế sau: Ông coi địa tô là phạm trù vĩnh viễn và còn coi lợi ích của chủ đất phù hợp với lợi ích của xã hội. Ông chưa hiểu được một cách đúng đắn sự chuyển hóa lợi nhuận siêu ngạch thành địa tô. Ông bị khống chế bởi tư duy sai lầm, giá cả tự nhiên của hàng hóa do các nguồn thu nhập quyết định mâu thuẫn: trước kia coi địa tô là yếu tố hình thành của giá cả tự nhiên, sau lại cho là khoản dôi ra ngoài giá cả tự nhiên, trước coi địa tô là nguyên nhân của giá cả, sau lại coi nó là hiệu quả của giá cả. Ông chưa hiểu được địa tô chênh lệch nhất và phủ nhận địa tô tuyệt đối. Vẫn còn chịu sự ảnh hưởng của chủ nghĩa trọng nông khi cho rằng năng suất lao động trong nông nghiệp cao hơn năng suất lao động trong công nghiệp vì cho rằng trong nông nghiệp còn có sự giúp đỡ của tự nhiên. Những hạn chế của David Ricardo: Ông đã gắn lý luận địa tô với quy luật ruộng đất sinh lợi ngày càng giảm vì ruộng đất là cái có hạn. Điều này đã bị phê phán trong kinh tế chính trị học. Ông chưa đề cập đến “địa tô chênh lệch II” và phủ nhận địa tô tuyệt đối vì không biết cấu tạo hữu cơ, không thấy được tính quy luật cấu tạo hữu cơ trong công nghiệp thường lớn hơn so với trong nông nghiệp, chưa thừa nhận địa tô tuyệt đối nghĩa là phủ nhận quy luật giá trị. a/ Phân tích nội dung cơ bản lý thuyết kinh tế của Jean Baptiste Say. Đưa ra nhận xét về lý thuyết này. b/ So sánh lý luận giá trị của Say với lý luận giá trị của D. Ricardo. a/ Lý thuyết kinh tế của Jean Baptiste Say và những nhận xét: Say xuất thân từ một gia đình thương nhân lớn ở Lyon. Tư tưởng và luận điểm kinh tế của Say thể hiện những vấn đề chủ yếu sau: Lý luận về giá trị: Ông xa rời lý thuyết giá trị lao động và ủng hộ lý thuyết giá trị ích lợi hay giá trị chủ quan. Ông cho rằng có sản xuất thì có tạo ra giá trị sử dụng. Giá trị sử dụng đó truyền cho mỗi vật phẩm giá trị trao đổi hay giá trị. Trong “học thuyết về tính hữu dụng” Say cho rằng giá cả là thước đo giá trị, còn giá trị là thước đo lợi ích (do giá trị sử dụng của vật phẩm). Ích lợi của vật phẩm càng nhiều thì giá trị của vật phẩm càng cao. Nhận xét: Về nguồn gốc giá trị nó đối lập hoàn toàn với học thuyết giá trị lao động của David Ricardo và Adam Smith. Chưa giải thích được vì sao có những của cải có giá trị sử dụng mà không có giá trị trao đổi, chưa làm rõ giá trị sử dụng ở đây là giá trị sử dụng khách quan hay giá trị sử dụng chủ quan. Chính luận điểm này là một trong những cơ sở xuất phát để hình thành học thuyết giá trị công dụng sau này dưới hình thức học thuyết công dụng cận biên. Quan điểm về thu nhập: Được phản ánh trong học thuyết 3 nhân tố của ông và nó liên quan mật thiết với thuyết giá trị công dụng của ông. Say phủ nhận vai trò thuần túy của lao động trong việc hình thành giá trị. Theo ông, 3 nhân tố tạo nên giá trị là lao động, tư sản và tự nhiên (đất đai). Mỗi nhân tố chỉ đưa lại một lợi ích (giá trị) nhất định. Ông cho rằng nên đầu tư thêm tư bản vào sản xuất sẽ làm tăng thêm sản phẩm phù hợp với phần tăng thêm về giá trị. Máy móc tham gia vào quá trình sản xuất sẽ tham gia vào tăng giá trị 3 nhân tố trên sẽ tạo ra cho các chủ sở hữu của nó những nguồn thu nhập riêng biệt, lao động tạo ra tiền lương, đất đai tạo ra địa tô, tư bản tạo ra lợi tức. Theo ông, ở đây không có quan hệ bóc lột. Nhà tư bản kinh doanh cũng như những người lao động, thu nhập của họ cũng là tiền lương nhưng đó là loại tiền lương đặc biệt, là phần thưởng đặc biệt cho năng lực kinh doanh và tinh thần làm việc của anh ta. Công nhân làm việc đơn giản nên nhận được tiền lương thấp, ông thừa nhận tiền lương chưa đáp ứng nhu cầu sinh hoạt cho công nhân nhưng ông cho rằng XH tư bản không chịu trách nhiệm về tình hình này. Nhận xét: Quan điểm về thu nhập của Say đối lập với học thuyết giá trị lao động về nguồn gốc của thu nhập. Ông phủ nhận về sự bóc lột của chủ tư bản đối với người làm thuê. Quan điểm về thu nhập của Say là cơ sở để hình thành học thuyết năng suất cận biên sau này. Lý thuyết bồi hoàn: Say coi sự tiến bộ kỹ thuật có vai trò đặc biệt đối với cả nhà tư bản lẫn công nhân làm thuê. Ông cho rằng chỉ thời kỳ đầu áp dụng máy móc kỹ thuật thì người công nhân mới có sự bất lợi vì gạt bỏ một số công nhân làm cho họ tạm thời không có việc làm. Nhưng cuối cùng thì công nhân vẫn có lợi do việc sử dụng máy móc làm cho các sản phẩm rẻ, người công nhân được hưởng. Nhận xét: Vẫn chưa đề cập đến sự bóc lột khốn cùng của giai cấp tư sản đối với giai cấp công nhân làm thuê. b/ So sánh lý luận giá trị của Say với lý luận giá trị của David Ricardo. Say: 1/ Say đã đem thuyết về tính hữu dụng đối lập với lý luận giá trị của David Ricardo. 2/ Cho rằng lao động tạo ra giá trị. Phân biệt giá trị trao đổi và giá trị sử dụng của hàng hóa. Ông cho rằng: giá trị sử dụng truyền lại cho các vật phẩm giá trị trao đổi, là thước đo của giá trị trao đổi, như là giá trị trao đổi cao hay thấp. 3/ Say cho rằng: giá trị của cải càng cao thì tính hữu dụng càng lớn, của cải càng nhiều thì giá trị càng lớn. 4/ Say nói: giá trị được xác định trên thương trường hay giá trị chỉ xuất hiện trong trao đổi, nói cách khác theo ông giá trị được quyết định bởi quan hệ cung-cầu, luận điểm này cho thấy vật nào càng hiếm thì giá trị càng cao. Nó mâu thuẫn với lý luận của ông cho rằng vật có giá trị sử dụng cao thì có giá trị cao. David Ricardo: 1/ Đứng vững trên cơ sở lý luận giá trị lao động và xem xét các phạm trù kinh tế dưới ánh sáng lý luận đó. 2/ Phân biệt rõ hai thuộc tính của hàng hóa là giá trị sử dụng và giá trị trao đổi, chỉ rõ giá trị sử dụng là điều cần thiết cho giá trị trao đổi nhưng không phải là thước đo của giá trị trao đổi. 3/ Cho rằng giá trị càng giảm khi năng suất lao động tăng lên. Ông gạt bỏ quan điểm của Say về của cải càng nhiều thì giá trị càng lớn. 4/ Ông hình dung vai trò của người lao động quá khứ nghĩa là vai trò của các yếu tố vật chất trong việc hình thành giá trị sản phẩm mới. a/ Phân tích nội dung lý thuyết của Harry Toshima. Nhận xét về lý thuyết này. b/ Nền kinh tế nước ta nước ta có phải là nền kinh tế “nhị nguyên” không? Vì sao? c/ Ý nghĩa rút ra cho sự hoạch định chính sách kinh tế từ sự nghiên cứu lý thuyết này? a/ Phân tích nội dung lý thuyết của Harry Toshima. Nhận xét: Ông là nhà kinh tế Nhật Bản, đưa ra lý thuyết tăng trưởng của các nước kinh tế gió mùa. Theo ông, mô hình tăng trưởng của Lewis không có ý nghĩa thực tế với tình trạng dư thừa lao động trong nông nghiệp gió mùa. Bởi vì nền nông nghiệp lúa nước vẫn thiếu lao động trong các đỉnh cao thời vụ và chỉ thừa lao động trong mùa nhàn rỗi. Trong mô hình này, sự phát triển được bắt đầu bằng việc vẫn giữ lại lao động trong nông nghiệp và chỉ tạo thêm những hoạt động mới trong những tháng nhàn rỗi như: tăng vụ, đa dạng hóa cây trồng, đẩy mạnh chăn nuôi... Lý thuyết này cũng giải thích tình trạng nghèo khổ của những nước Châu Á gió mùa: Nền kinh tế các nước Châu Á gió mùa chủ yếu là nền kinh tế nông nghiệp lúa nước chịu ảnh hưởng sâu sắc của điều kiện khí hậu gió mùa. Khí hậu gió mùa chia một năm thành hai mùa rõ rệt là mùa mưa (mùa canh tác) và mùa khô (mùa nhàn rỗi). Như vậy lao động trong nông nghiệp không được sử dụng một cách đầy đủ: thiếu lao động trong các đỉnh cao thời vụ và thừa lao động trong mùa nhàn rỗi. Vì vậy, hiệu quả sử dụng lao động thấp à năng suất lao động thấp à thu nhập thấp. Giải pháp kinh tế của lý thuyết này là: tăng vụ, đa dạng hóa cây trồng, phát triển chăn nuôi, đánh cá, quan tâm phát triển ngành công nghiệp chế biến và ngành công nghiệp có thể sử dụng nhiều lao động ở nông thôn. Khi lao động nông nghiệp sử dụng một cách đầy đủ làm cho mức thu nhập của họ hằng năm tăng lên. Nhu cầu tiêu dùng tăng, từ đó mở rộng thị trường cho các ngành công nghiệp và dịch vụ. Như vậy lực lượng nông nghiệp sẽ được sử dụng hết. Mặt khác, khi thị trường lao động bị thu hẹp thì tiền lương thực tế tăng nhanh. Hầu hết các nông trại phải chuyển sang cơ giới và việc thay thế lao động thủ công bằng các loại máy móc nhỏ sẽ làm tăng năng suất lao động, tăng GNP tính theo đầu người. Nhận xét: Chúng ta có những câu hỏi đặt ra là: Thứ 1: Có phải nền kinh tế của các nước đang phát triển đều là kinh tế nhị nguyên không? Câu trả lời là chỉ đúng với một số nước, trên thực tế ở một số nước đang phát triển thị khu vực kinh tế hiện đại, năng động lại là khu vực dịch vụ. Thứ 2: Có thực sự thừa lao động trong khu vực truyền thống không? Vì thực tế cho thấy rằng: Khi thời vụ xảy ra, sản xuất nông nghiệp vẫn còn có nhu cầu về lao động. Thứ 3: Sự chuyển giao lao động từ khu vực sản xuất truyền thống sang khu vực sản xuất hiện đại hay không? Vì khu vực này có bảo đảm vừa tăng lao động vừa tăng lợi nhuận được không? Trên thực tế có xu hướng việc ứng dụng các kỹ thuật sản xuất hiện đại lại gắn liền với việc tăng tỷ xuất vốn đầu tư và ít sử dụng công nhân không có tay nghề. Mặt khác ở các nước đang phát triển khu vực kinh tế hiện đại kém có khả năng tích lũy do kỹ thuật sản xuất lạc hậu và năng suất lao động thấp. b/ Nền kinh tế nước ta nước ta có phải là nền kinh tế “nhị nguyên” không? Vì sao? Nền kinh tế Việt nam hiện nay không phải là nền kinh tế nhị nguyên mà là nền kinh tế chuyển sang kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN. Chúng ta không hề từ bỏ lĩnh vực truyền thống là sản xuất nông nghiệp để đi đến sản xuất công nghiệp hiện đại mà phát triển nông nghiệp một cách có kế hoạch, cân đối với cơ cấu nền kinh tế quốc dân. Nông nghiệp vẫn là mặt trận chủ lực của chúng ta. Chúng ta cần có nông nghiệp để xuất khẩu lúa gạo, lấy tiền đem về nguyên vật liệu, máy móc để phát triển nông nghiệp... tạo tiền đề tăng trưởng cho kinh tế Việt Nam. c/ Ý nghĩa rút ra cho sự hoạch định chính sách kinh tế từ sự nghiên cứu lý thuyết trên: Nông nghiệp hóa là con đường tốt nhất để bắt đầu một cuộc chiến lược phát triển ở Châu Á gió mùa, tiến tới một XH có cơ cấu kinh tế công – nông – dịch vụ. Lý thuyết này gợi cho ta rằng: trước hết phải tập trung vào phát triển nông nghiệp và sử dụng lao động nông nghiệp hợp lý, có hiệu quả. Mặt khác, phải phát triển một nền nông nghiệp đa dạng, tạo ra thị trường của nông nghiệp và dịch vụ nông nghiệp. a/ Phân tích lý thuyết của trường phái Trọng Tiền hiện đại ở Mỹ. Đưa ra nhận xét về lý thuyết này. b/ So sánh luận điểm xác định số lượng tiền cần thiết trong lưu thông của William Petty với thuyết “số lượng tiền tệ”. Nhận xét về những luận điểm này. a/ Các quan điểm kinh tế của trường phái trọng tiền hiện đại ở Mỹ: Trường phái trọng tiền hiện đại ở Mỹ chủ trương tự do hóa nền kinh tế đồng thời nhấn mạnh vai trò tự điều tiết của thị trường. Trường phái trọng tiền hiện đại ở Mỹ đối lập và phê phán gay gắt những quan điểm chủ yếu của Keynes: Về tình trạng nền kinh tế: Cho rằng giá cả và tiền lương trong điều kiện mới là tương đối linh hoạt mềm dẻo. Thị trường vẫn có khả năng tự động điều tiết. Do thị trường có khả năng tự điều chỉnh nên nền kinh tế có khả năng phát huy tiềm năng của mình. GNP thực tế gần sát GNP tiềm năng. Do đó đường tổng mức cung không phải là một khoảng nằm ngang mà là một đường dốc đứng gần với GNP (GNP: tổng thu nhập quốc dân) Tổng cầu: Khi đường tổng cung là một đường dốc đứng, tổng cầu thay đổi thì nó không thay đổi hình dáng kể GNP thực tế mà chỉ làm thay đổi giá cả. Các nhân tố ảnh hưởng đến tổng cầu: Trường phái này cho rằng chính sách tài chính không làm ảnh hưởng nhiều đến tổng cầu mà nhân tố quan trọng quyết định chính là khối lượng tiền tệ (ký hiệu: M) nói đúng hơn là tổng mức cung về tiền tệ. Theo quan điểm trọng tiền hiện đại ở Mỹ: Tổng cung tiền tệ là một nhân tố chủ quan. Vì vậy, nó thường không ổn định và nó thường đặc biệt dễ bị chi phối bởi nhân tố chính trị như là chu kỳ kinh doanh chính trị (chu kỳ bầu cử tổng thống, nghị sĩ quốc hội...). Trong khi đó tổng mức cầu về tiền tệ là một đại lượng khách quan, tương đối ổn định vì nó phụ thuộc vào GNP tiềm năng. Trường phái trọng tiền hiện đại Mỹ quan tâm đến căn bệnh chủ yếu của nền kinh tế: không phải là suy thoái và thất nghiệp mà căn bệnh nguy hiểm nhất là lạm phát. Họ đề ra biện pháp để chống lạm phát như sau: Thực hiện một chính sách tiền tệ, cụ thể, chủ động làm tăng tổng mức cung tiền tệ từ 3-4%/ năm (phù hợp với tốc độ tăng của tổng mức cầu tiền tệ là xấp xỉ mức phát triển của GNP tiềm năng. Một điểm cần chú ý ở đây là lạm phát giảm sẽ dẫn đến tình trạng thất nghiệp tăng. Nhận xét: Đã đề ra một giải pháp hữu hiệu để tránh lạm phát nhưng cũng cần phải lưu tâm đến suy thoái và thất nghiệp, là căn bệnh trầm kha của chủ nghĩa tư bản. b/ So sánh luận điểm xác định số lượng tiền cần thiết trong lưu thông của William Petty với thuyết “số lượng tiền tệ”. Nêu nhận xét. Số lượng tiền cần thiết trong lưu thông của W.Petty: Ông là người đầu tiên xác định số tiền trong lưu thông trên cơ sở số lượng hàng hóa và tốc độ chu chuyển của tiền, là người tiên phong trong việc nghiên cứu ảnh hưởng của thời hạn thanh toán đối với lưu thông tiền tệ, thời hạn thanh toán càng dài thì số tiền cần thiết cho lưu thông càng nhiều. Nhận xét: Ông chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa trọng thương khi cho rằng hai thứ kim loại giữ vai trò tiền tệ là vàng bạc. Quan hệ tỷ lệ giữa chúng là giá trị của chúng là do số lượng lao động bỏ vào việc khai thác vàng bạc quyết định. Trường phái Mỹ: Tốc độ lưu thông của tiền tệ là tốc độ quay vòng của tổng khối lượng tiền tệ. Công thức’ PQ GNP V= = (1) M M V= Tốc độ lưu thông của tiền tệ M= Khối lượng tiền tệ P= Mức giá chung Q= Sản lượng thực tế của hàng hóa dịch vụ à MV=GNP=PQ (2) Ở phương trình này ta thấy mối quan hệ giữa M.V.GNP. Từ (2): gọi V là đại lượng cố định, trên danh nghĩa GNP tỷ lệ với khối lượng tiền tệ trong lưu thông. Đặc biệt trong thời gian ngắn V coi như không đổi: MV V à P= = M Q Q V/Q trong thời gian ngắn nhất là một hằng số = Kinh tế Vì vậy P= KM (3)\ Mức giá luôn tỷ lệ với khối lượng tiền trong lưu thông Từ đó, trường phái trong tiền hiện đại ở Mỹ cho rằng các biến số của kinh tế vĩ mô như sản lượng quốc gia, việc làm mức giá cả thuần túy phụ thuộc rất nhiều vào khối lượng tiền tệ. Nếu khối lượng tiền tệ càng nhiều thì GNP: việc làm giá cả cũng tăng lên theo. Lạm phát là do dư thừa số lượng tiền tệ trong lưu thông. So với W. Petty thì trường phái trọng tiền hiện đại ở Mỹ nghiên cứu sâu hơn. Nhận xét: Từ công thức (3) trên cho thấy trường phái trọng tiền hiện đại ở Mỹ đã thấy được mọi tình trạng lạm phát (P tăng nhanh) là do phát hành tiền quá mức cần thiết. Từ đó, phải tìm cho ra giải pháp hữu hiệu để chống tình trạng lạm phát, gây hậu quả nặng nề cho nền kinh tế. Thực tế chính sách tiền tệ là một công cụ vĩ mô hết sức quan trọng. Trong quản lý nhà nước không chỉ ứng dụng chính sách tiền tệ và quy tắc tiền tệ mà còn ứng dụng một cách tổng hợp các công cụ. a/ Phân tích nội dung lý thuyết của W. Rostow. Đưa ra nhận xét từ sự nghiên cứu của lý thuyết này. b/ Ý nghĩa rút ra từ sự nghiên cứu lý thuyết này. a/ Phân tích nội dung lý thuyết của W Rostow. Nhận xét: W. Rostow cho rằng sự tăng trưởng kinh tế của các nước phải trải qua các giai đoạn khác nhau, khác với lý thuyết phân tích sự phát triển thông qua các yếu sản xuất. Lý thuyết của ông đi từ gốc độ kinh tế lịch sử, nó nghiên cứu tiến độ, quá trình phát triển của nền kinh tế từ thấp mà đi đến đỉnh cao nhất. W. Rostow cho rằng sự phát triển của mỗi nước nhất thiết phải trải qua 5 giai đoạn đi từ thấp đến cao: XH truyền thống: Với những đặc trưng cơ bản là không có khoa học hiện đại, phân bố tài nguyên quá nhiều và không có hiệu quả nông nghiệp, phân bố ít trong nông nghiệp chế tạo, cơ cấu XH cân nhắc, năng xuất lao động thấp, thu nhập đủ sống. Ứng với giai đoạn này là các nước Châu Âu thời Trung Cổ. Chuẩn bị cất cánh: Với đặc trung cơ bản là: Áp dụng những biện pháp mới trong sản xuất nông nghiệp và công nghiệp chế tạo, xuất hiện những cơ chế tài chính như: ngân hàng, cải thiện các phương tiện giao thông vận tải để mở rộng thương mại, đã có tầng lớp chủ xí nghiệp đủ khả năng thực hiện đổi mới cơ cấu hạ tầng sản xuất. Bắt đầu xuất hiện những khu vực có tác động lôi kéo nền kinh tế. Ứng với giai đoạn này là thời kỳ công nghiệp hóa. Cất cánh: Với các đặc trưng: Tốc độ tăng trưởng nhanh và tỷ lệ đầu tư cho nền kinh tế khoảng 5-10% tổng sản phẩm quốc dân, áp dụng những biện pháp kỹ thuật và tổ chức hiện đại vào sản xuất nông nghiệp và công nghiệp, có các ngành công nghiệp mới, lớn ra đời. Mặt khác cơ cấu kinh tế chính tế trong giai đoạn này phải cho phép khai thác các xung lực kinh tế trong tất cả các lĩnh vực kinh tế. Ở giai đoạn này quá trình cất cánh được bắt đầu từ khu vực đầu đàn rồi tới khu vực địa lý, ngành kỹ thuật kinh tế, từ đó kéo theo sự phát triển một số ngành khác (giai đoạn này khoảng 30 năm). Chuyển tới sự chín mùi về kinh tế: Với những đặc trưng: Tỷ lệ đầu tư lên tới 10-20% tổng sản phẩm quốc dân, xuất hiện nhiều cực tăng trưởng mới, tốc độ tăng GNP nhanh hơn nhiều so với tốc độ tăng dân số, nền kinh tế đóng vai trò quan trọng trong ngoại thương thế giới (giai đoạn này khoảng 40 năm). Trưởng thành – xã hội tiêu dùng cao, hàng loạt: với những đặc trưng tỉ lệ cao các nguồn tài nguyên được dùng cho sản xuất hàng tiêu dùng và dịch vụ, công nhân lành nghề, lao động trí tuệ tăng nhanh, một bộ phận lớn tài nguyên được dùng cho phúc lợi và an ninh. Quốc gia thịnh vượng, xã hội hóa sản xuất cao nhưng dần dần có dấu hiệu giảm sút tăng trưởng. Nhận xét: Lý thuyết của Rostow có căn cứ thực tế không thể chối cãi nhưng có những hạn chế sau: Tăng trưởng là một quá trình liên tục chứ không phải đứt đoạn nên không thể phân chia thành những giai đoạn chính xác như vậy. Mặt khác, sự tăng trưởng và phát triển ở một số nước không nhất thiết phải giống phân chia 5 giai đoạn như trên, câu hỏi đặt ra là “Tại sao cất cánh lại xảy ra ở nước này mà không xảy ra ở nước khác?” Lý thuyết chưa giải thích được điều đó. Cách tiếp cận không lấy tính đặc thù của mỗi nước làm điểm xuất phát. Lý thuyết Rostow chỉ nghiên cứu sự tăng trưởng chứ chưa đi sâu nghiên cứu và phân tích phát triển kinh tế. b/ Ý nghĩa rút ra từ sự nghiên cứu lý thuyết của Rostow: Có ý nghĩa trong việc xác định trình độ phát triển của mỗi quốc gia trong mỗi giai đoạn. Lý thuyết này gợi ý về sự thúc đẩy hoàn thành những tiền đề cần thiết nào đó cho sự phát triển của mỗi nước trong từng giai đoạn.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docCác học thuyết kinh tế.doc
Tài liệu liên quan