Bài soạn ôn thi tốt nghiệp môn quản lý nhà nước về kinh tế

Bài soạn ôn thi tốt nghiệpmôn quản lý nhà nước về kinh tế Câu 1: Mô tả đặc trưng của nền kinh tế thị trường. Nêu ví dụ về những nhược điểm của kinh tế thị trường ở Việt Nam. Nhà nước ta cần tập trung giải quyết những vấn đề gì để khắc phục nhược điểm của kinh tế thị trường? I. Kinh tế thị trường là là một mô hình kinh tế vận động, phát triển, dựa trên cơ sở các quy luật của thị trường, trong đó quan hệ hàng hoá - tiền tệ trở thành phổ biến và bao quát hầu hết các lĩnh vực hoạt động kinh tế. Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường. Cơ chế thị trường là cơ chế vận hành khách quan của nền kinh tế, ở đó các quy luật khách quan của nền kinh tế thị trường phát huy tác dụng, trước hết, là quy luật giá trị, quy luật này đòi hỏi việc sản xuất hàng hoá phải trên cơ sở hao phí lao động xã hội cần thiết và trao đổi phải bình đẳng, ngang giá. Mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh phải tuân thủ quy luật này mới có thể tồn tại và phát triển. Thứ hai là quy luật cung cầu, quy luật này biểu hiện quan hệ giữa cung và cầu thông qua giá cả, nó tác động trực tiếp đến giá cả và phương thức sản xuất, tiêu dùng của xã hội. Thứ ba là quy luật cạnh tranh, quy luật này đòi hỏi hàng hoá sản xuất ra phải có chất lượng tốt hơn, chi phí thấp hơn, thái độ phục vụ văn minh hơn để nâng cao khả năng cạnh tranh so với các hàng hoá khác cùng loại. Một nền kinh tế được gọi là kinh tế thị trường phải có 6 đặc trưng chủ yếu sau: 1. Thứ nhất, là quá trình lưu thông vật chất từ khâu này đến khâu khác trong hệ thống các khâu của quá trình sản xuất và từ sản xuất đến tiêu dùng đều được thực hiện chủ yếu bằng phương thức mua - bán. Sở dĩ có sự luân chuyển vật chất trong nền kinh tế là do có sự phân công chuyên môn hoá trong sản xuất sản phẩm xã hội ngày càng cao, bên cạnh đó, còn do có sự dư thừa sản phẩm ở doanh nghiệp này, ngành này nhưng lại thiếu sản phẩm ở doanh nghiệp khác, ngành khác và ngược lại. Một nền kinh tế được gọi là nền kinh tế thị trường khi tổng lượng mua bán vượt quá nữa tổng lượng vật chất của xã hội. 2. Thứ hai, người trao đổi hàng hoá phải có quyền tự do nhất định khi tham gia trao đổi trên thị trường, được thể hiện trên 3 mặt sau: tự do lựa chọn nội dung trao đổi, tự do lựa chọn đối tác trao đổi và tự do thoả thuận giá cả trao đổi theo cách thuận mua vừa bán. 3. Thứ ba, hoạt động mua bán được diễn ra 1 cách thường xuyên, ổn định trên cơ sở 1 kết cấu hạ tầng tối thiểu đủ để việc mua bán diễn ra thuận lợi, an toàn. 4. Thứ tư, các đối tác tham gia trong nền kinh tế thị trường đều theo đuổi lợi ích của mình, đó chính là lợi nhuận, lợi ích cá nhân là động lực trực tiếp của sự phát triển kinh tế nhưng không được xâm phạm ảnh hưởng đến lợi ích của người khác và của cộng đồng. 5. Thứ năm, kinh tế thị trường luôn gắn với cạnh tranh, hay nói cách khác, cạnh tranh là linh hồn của nền kinh tế thị trường, đó là động lực thúc đẩy sự tiến bộ kinh tế và xã hội, nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hoá và dịch vụ có lợi cho người tiêu dùng. 6. Thứ sáu, sự vận động của các quy luật khách quan trong nền kinh tế thị trường (quy luật giá trị, qui luật cạnh tranh, qui luật cung-cầu .) dẫn dắt hành vi, thái độ ứng xử của các chủ thể tham gia thị trường. Ngày nay, sự phát triển mạnh mẽ của sức sản xuất trong từng quốc gia và sự hội nhập kinh tế mang tính toàn cầu đã tạo điều kiện và khả năng to lớn để nền kinh tế thị trường phát triển đạt đến trình độ cao - kinh tế thị trường hiện đại. Nền kinh tế thị trường hiện đại là nền kinh tế có đầy đủ các đặc trưng của 1 nền kinh tế thị trường và đồng thời có các đặc trưng sau: (4) + Một là, có sự thống nhất về mục tiêu kinh tế với các mục tiêu chính trị - xã hội và nhân văn. + Hai là, có sự quản lý của nhà nước, do nhu cầu nhà nước không chỉ là người đại diện cho lợi ích của giai cấp cầm quyền mà còn do nhu cầu của chính những người tham gia Điều đó đòi hỏi phải có sự quản lý của nhà nước đối với nền kinh tế thị trường. + Ba là, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế giữa các quốc gia đang diễn ra với qui mô ngày càng lớn, tốc độ ngày càng tăng làm cho nền kinh tế thế giới ngày càng trở nên 1 chỉnh thể thống nhất, trong đó mỗi quốc gia là 1 bộ phận gắn bó hữu cơ với các bộ phận khác. + Bốn là, hệ thống thị trường đồng bộ, thống nhất, ngày càng hiện đại, gắn với thị trường khu vực và thế giới, bao gồm các thị trường bộ phận đầu ra (hàng hoá, dịch vụ) và thị trường đầu vào (vốn, lao động, công nghệ thông tin, bất động sản .).

doc43 trang | Chia sẻ: tlsuongmuoi | Ngày: 01/06/2013 | Lượt xem: 13567 | Lượt tải: 76download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Bài soạn ôn thi tốt nghiệp môn quản lý nhà nước về kinh tế, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ớc mạnh, hoạt động đa ngành, đa lĩnh vực, trong đó có ngành chính; có nhiều chủ sở hữu, sở hữu nhà nước giữ vai trò chi phối. Theo hướng này, sẽ sắp xếp những doanh nghiệp nhà nước thành 2 loại: + Doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích, hoạt động trong các lĩnh vực cung ứng hàng hoá công cộng, được nhà nước hỗ trợ, có cơ chế quản lý, hạch toán đặc thù. + Doanh nghiệp nhà nước hoạt động kinh doanh: Loại này được phân thành bốn nhóm: - Nhóm thứ nhất gồm những doanh nghiệp đặc biệt quan trọng mà nhà nước cần giữ 100% vốn sở hữu, thuộc các lĩnh vực cần giữ độc quyền, có vai trò dẫn dắt, mở đường về ứng dụng công nghệ, mũi nhọn, công nghệ cao, quy mô lớn, địa bàn trọng yếu, ngành kinh tế kỹ thuật then chốt hoặc góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, các doanh nghiệp hoạt động bảo đảm nhu cầu cần thiết cho phát triển sản xuất và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào các dân tộc ở miền núi, vùng sâu, vùng xa. - Nhóm thứ hai gồm những doanh nghiệp quan trọng mà nhà nước cần nắm cổ phần chi phối. Dó là doanh nghiệp hoạt động trong một số lĩnh vực, như bán buôn sản phẩm chiến lược, công nghiệp khai khoáng và chế biến quan trọng, các ngành vận tải lớn, các doanh nghiệp có quy mô lớn hoặc đóng góp lớn cho ngân sách. - Nhóm thư ba gồm các doanh nghiệp không quan trọng đang hoạt động có lãi sẽ tiến hành cổ phần hoá toàn bộ hoặc một phần tuỳ theo sức mua của cán bộ, công nhân viên. - Nhóm thư tư gồm các doanh nghiệp nhà nước không quan trọng, có vốn dưới 1 tỷ đồng, hoặc làm ăn thua lỗ kéo dài mà nhà nước không cần phải nắm giữ. 2. Thực hiện các biện pháp nhằm làm lành mạnh hoá tài chính doanh nghiệp nhà nước. + Giải quyết dứt điểm tình hình công nợ khó đòi, vật tư ứ đọng và mất khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Chấm dứt hỗ trợ cho các doanh nghiệp nhà nước hoạt động kinh doanh đang lâm vào tình trạng phá sản. + Đi đôi với các biện pháp huy động vốn và bổ sung vốn từ ngan dách nhà nước, thí điểm chuyển một phần nợ tín dụng của doanh nghiệp nhà nước thành vốn góp của ngân hàng để chuyển thành doanh nghiệp nhà nước hoạt động theo Luật doanh nghiệp nhằm giải quyết khó khăn về vốn, tạo sự gắn bó giữa ngân hàng và doanh nghiệp. + Tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính doanh nghiệp nhà nước, thực hiện kiểm kê, phân loại doanh nghiệp nhà nước, xác định lại tài sản thuộc quyền sử dụng của doanh nghiệp nhà nước. + Hoàn thiện cơ chế khuyến khích vật chất đối với cán bộ quản lý và người lao động gắn với hiệu quả sản xuất kinh doanh, kết quả tích luỹ vốn của doanh nghiệp. 3. Cổ phần hoá, đa dạng hoá sở hữu doanh nghiệp nhà nước, chuyển doanh nghiệp nhà nước sang hoạt động theo Luật doanh nghiệp (công ty hoá). 4. Tiếp tục tạo lập môi trường kinh tế vĩ mô thuận lợi cho doanh nghiệp nhà nước hoạt động, tập trung vào cải tiến thủ tục hành chính của bộ máy nhà nước theo hướng đơn giản, một cửa; tạo sự thống nhất, đồng bộ trong các văn bản pháp lý hiện hành; xây dựng hệ thống thu thập và cung cấp thông tin tin cậy và kịp thời cho doanh nghiệp, tạo sự thông thoáng thị trường trong các quan hệ kinh tế đối ngoại theo hướng nhà nước hỗ trợ doanh nghiệp mở rộng thị trường nước ngoài. chương III Câu 16: Vì sao các quốc gia phải thực hiện quan hệ kinh tế đối ngoại. Phân tích quá trình hội nhập quốc tế đưa lại những cơ hội và thách thức gì đối với nền kinh tế Việt Nam. I. Sự cần thiết khách quan phải thực hiện quan hệ kinh tế đối ngoại của các quốc gia xuất phát từ các lý do sau: 1. Do có sự khác biệt về nguồn tài nguyên giữa các quốc gia. Không có một quốc gia nào tiến hành sản xuất của cải vật chất mà không dựa vào tài nguyên và không có một quốc gia nào có thể có đủ mọi loại tài nguyên, điều đáng lưu ý là sự thiếu hụt tài nguyên không giống nhau giữa các quốc gia, vì thế các quốc gia phải trao đổi với nhau nhằm khắc phục dư thừa sản phẩm này, thiếu hụt sản phẩm khác. Đoa chính là một trong những nguyên nhân khách quan để hình thành và phát triển thương mại quốc tế. 2. Do có sự phát triển không đồng đều giữa các quốc gia về khoa học và công nghệ. Trình độ khoa học và công nghệ của mỗi quốc gia thường không đồng đều do những nguyên nhân có tính lịch sử và địa lý tự nhiên. Trong khi đó, công cuộc phát triển kinh tế - xã hội đòi hỏi các quốc gia phải nắm bắt những thành tựu của khoa học và công nghệ hiện đại, điều đó đòi hỏi các quốc gia phải có quan hệ trao đổi với nhau. 3. Do có sự khác biệt giữa các quốc gia về điều kiện tái sản xuất. Ngoài tài nguyên và khoa học công nghệ, để phát triển sản xuất, mọi quốc gia còn cần lao động và vốn đầu tư ... Những nhân tố này thường không đồng đều giữa các quốc gia, đẫn đến trình độ phát triển của các quốc gia không đèu nhau và do đó, các quốc gia có nhu cầu trao đổi kinh tế. 4. Do mọi quốc gia đều muốn đi sâu vào chuyên môn hóa nên chúng ở vào thế què quặt về kinh tế, thừa sản phẩm, dịch vụ này, thiếu sản phẩm, dịch vụ kia, đòi hỏi các quốc gia phải trao đổi hàng hoá thiếu thừa cho nhau. 5. Do yếu cầu bảo vệ Tổ quốc. Quan hệ kinh tế quốc tế là chỗ dựa quan trọng trong giữ gìn độc lập và hoà bình của mỗi quốc gia. Nếu có quan hệ đa phương, trong đó có quan hệ với các đối tác đáng tin cậy, thì hệ thống đối tác kinh tế đối ngoại sẽ là hậu thuẫn cho việc bảo vệ lãnh thổ trong một mức độ nhất định. II. Sự cần thiết riêng có của Việt Nam: Việt Nam cũng không ngoài các lý do chung của các quốc gia đối với việc phải có quan hệ quốc tế về kinh tế. Tuy nhiên, trong việc phát triển quan hệ quốc tế về kinh tế của nước ta cần thấy rõ 1 số lý do đặc thù riêng: 1. Yêu cầu bức xúc về vốn và khoa học công nghệ cho việc phát triển nhanh, bền vững nền kinh tế Việt Nam. Chúng ta cần phải nhanh chóng nâng cao mức sông vật chất và tinh thần cho nhân dân, mau chóng rút ngắn khoảng cách về mức sống giữa nhân dân ta và nhân dân thế giới, trước hết là nhân dân các nước trong khu vực. 2. Do nước ta có một số lợi thế so với các nước trên thế giới và khu vực, các tiềm năng chưa được khai thác và sử dụng có hiệu quả, đó là: + Mặt bằng xây dựng công nghiệp. Nước ta còn nhiều đất đai để xây dựng các khu công nghiệp, tạo địa bàn cho các cường quốc công nghiệp đến đầu tư xây dựng công nghiệp. + Nguồn nguyên liệu dồi dào. + Nguồn nguyên liệu, tài nguyên đặc chủng, quý hiếm. + Du lịch sinh thái, nguyên sinh. + Vị trí giao thông quốc tế; có khả năng xây dựng các cảng biển, cảng hàng không trong các tuyến giao thông quốc tế. + Vị trí thương mại, giao dịch quốc tế cho phép mở ra các điểm hội tụ quốc tế tài chính, khoa học, ngoại giao, văn hóa, thể thao... 3. Trình độ tay nghề thấp, trình độ quản lý yếu kém, thị trường cho sản xuất chưa được mở rộng. III. Phân tích quá trình hội nhập quốc tế đưa lại những cơ hội và thách thức gì đối với nền kinh tế Việt Nam. 1. Cơ hội: + Mở rộng thị trường, thu hút được nguồn vốn cho đầu tư phát triển. + Tham gia vào mạng lưới sản xuất toàn cầu, phát huy được lợi thế so sánh về tài nguyên, lao động. + Tạo lập được vị thế mới trong quan hệ quốc tế, tạo lập được trật tự kinh tế quốc tế bình đẳng, cùng có lợi. 2. Thách thức. + Do trình độ phát triển thấp nên trong giai đoạn đầu dễ bị chèn ép, thua thiệt trong quá trình hội nhập quốc tế. + Đòi hỏi phải giữ vững ổn định chính trị và thúc đẩy quá trình đổi mới. + Tạo ra sự chênh lệch phát triển và gia tăng khoảng cách giàu nghèo. + Tạo ra những thách thức mới về môi trường, các vấn đề xã hội. Câu 17: Các hình thức của kinh tế đối ngoại. Trong điều kiện hiện nay của nước ta phải ưu tiên áp dụng hình thức nào, vì sao? I. Các hình thức của kinh tế đối ngoại: 1. Xuất nhập khẩu hàng hóa: a. Nguồn gốc xuất nhập khẩu hàng hóa là sự trao đổi, mua bán hàng hoá ra khỏi phạm vi biên giới của 1 đất nước. Xuất nhập khẩu hàng hóa từ các nguyên nhân: + Do sự khác nhau về các đặc sản tự nhiên, về tài nguyên. Mỗi nước đều có 1 hoặc 1 số loại tài nguyên nào đó, cũng đồng thời thiếu hụt 1 số loại tài nguyên nào đó. + Do sự khác nhau về sở trường lao động truyền thống thường thể hiện ở tay nghề thủ công, ở sản phẩm mang nét văn hóa địa phương. + Do sự phân công chuyên môn hóa giữa các nước nhằm tối ưu hóa qui mô sản xuất, sự hình thành và phát triển các khu chế xuất tạo ra khả năng xuất khẩu cao với sản phẩm chế biến sâu, thay đổi cơ cấu hàng xuất khẩu theo hướng tiến bộ và hiệu quả. Với những lý do này, sản xuất sẽ thiên lệch, trong khi tiêu dùng lại cần toàn diện và cân đối. Điều này sinh ra mâu thuẫn trong cung - cầu hàng hoá. Để giải quyết mâu thuẫn cần có xuất nhập khẩu hàng hoá. b. Các hình thức xuất nhập khẩu hàng hóa: + Xét theo các mức độ chính thống có: - Xuất nhập khẩu chính ngạch: Các hoạt động ngoại thương có bản hiệu, có giấy phép, có hợp đồng do các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu tiến hành. + Xuất nhập khẩu không chính ngạch (tiểu ngạch) là hoạt động ngoại thương dân cư, có tính tiểu thương, vùng biên do dân cư tiến hành. + Theo tính chất kinh tế có: - Xuất nhập khẩu mậu dịch: hàng hoá qua biên giới theo con đường mua bán kinh doanh. + Xuất nhập khẩu phí mậu dịch: hàng hoá qua biên giới với tính chất mua để dùng, hàng quà tặng. + Theo phạm vi luân chuyển hàng hóa có: - Xuất nhập khẩu qua biên giới là hành vi xuất hàng ra nước ngoài. - Xuất nhập khẩu tại chỗ: hành vi bán hàng cho người nước ngoài tại nước mình nhưng theo giá xuất khẩu hay theo chế độ giá đặc thù. c. Vai trò tác dụng của xuất nhập khẩu hàng hóa: + Thúc đẩy và đảm bảo vai trò cho chuyên môn hóa sản xuất của mỗi quốc gia có điều kiện đi vào chiều sâu, ổn định. + Góp phần làm phong phú thị trường hàng hóa trong nước. + Góp phần tận thu các nguồn lợi quốc gia. + Góp phần kích thích sản xuất trong nước, nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm. Ngoài tác dụng chung, mỗi hình thức xuất nhập khẩu hàng hoá cụ thể còn có tác dụng riêng, ví dụ: xuất nhập khẩu tại chỗ có nhiều ưu điểm trong điều kiện hiện nay ở nước ta. 2. Xuất nhập khẩu tư bản: a. Nguồn gốc: Nguyên nhân hoạt động xuất nhập khẩu tư bản xuất hiện: + Do sự lệch pha nhàn rỗi về vốn tích lũy giữa các nước. + Do sự phát triển không đồng đều về kinh tế giữa các nước tạo nên tình trạng tách rời giữa vốn và lao động. Tức là có nơi thừa vốn, thiếu lao động và ngược lại. + Do sự phân bố kinh tế không đồng đều trên thế giới tạo nên những vùng bảo hòa kinh tế, thiếu không gian đầu tư đồng thời có vùng không gian rộng lớn nhưng thiếu vốn đầu tư. b. Các hình thức xuất nhập khẩu tư bản: + Xuất nhập khẩu tư bản gián tiếp: là viện trợ hoặc cho vay. Chủ đầu tư không trực tiếp điều hành và quản lý vốn đầu tư mà chuyển quyền sử dụng cho nước ngoài, chờ hưởng lợi về mặt nào đó: kinh tế, chính trị, xã hội... Các nước cho vay có nhiều mục đích. Riêng về kinh tế, ngoài mục đích kiếm lợi tức, chủ đầu tư còn theo đuổi các hiệu quả kinh tế khác đạt được ở vốn đầu tư trực tiếp sau này. Trong nhiều trường hợp, đầu tư gián tiếp đóng vai trò tiền trạm, góp phần tạo nên kết cấu hạ tầng kinh tế để sau này khi đầu tư trực tiếp xuất hiện chúng có cơ sở hoạt động thuận lợi và có hiệu quả. + Xuất nhập khẩu tư bản trực tiếp (FDI): là hình thức đầu tư của các nhà tư bản ra nước ngoài. Chủ trực tiếp quản lý và điều hành vốn đầu tư tại nước ngoài và thu lợi nhuân, bao gồm các hình thức cụ thể sau: - Đầu tư độc lập là hình thức tồn tại của vốn nước ngoài có 1 trong các đặc điểm sau: . Tồn tại dưới dạng doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, hoạt động không trong khuôn khổ hợp tác, liên doanh, liên kết nào với các doanh nghiệp bản địa. . Tồn tại biệt lập trong 1 khu vực đặc biệt thể hiện dưới dạng đặc khu kinh tế nước ngoài có thực chất là 1 bộ phận kinh tế nước ngoài đóng trên đất nước nhà. - Hình thức hội nhập: vốn nước ngoài tham gia vào kinh tế nội địa theo 2 hình thức: . Liên doanh với vốn của nhà nước hoặc của công dân nước sở tại để tạo thành công ty. . Hợp tác kinh doanh: vốn nước ngoài không hòa lẫn với vốn trong nước thành 1 công ty mà vẫn tồn tại như 1 doanh nghiệp riêng nhưng thống nhất hành động trong 1 chương trình khai thác tổng thể 1 nguồn lợi kinh tế nào đó. c. Vai trò xuất nhập khẩu tư bản trực tiếp: + Xuất nhập khẩu tư bản trực tiếp (FDI) dù ở dạng nào độc lập hay hạch toán kinh doanh về môi trường giao dịch đều có tác dụng về các mặt sau: - Tạo việc làm cho nước sở tại, khắc phục được tình trạng thất nghiệp hay dư thừa lao động tự nhiên, tránh được con đường xuất khẩu lao động đầy phức tạp, bất trắc và rủi ro. - Tạo ra được môi trường trí tuệ công nghiệp hiện đại cho việc đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước sau này. - Tạo ra được thị trường quốc tế ngay trong nước mình nhờ đó mà có cơ hội thực hiện xuất khẩu tại chỗ cho những hàng hóa, nguyên liệu, tài nguyên khai thác có số lượng ít, chất lượng khó bảo quản. - FDI cũng là nguồn nhập khẩu hàng hóa có lợi về giá cả do giảm, miễn được nhiều phụ phí ngoại thương. + Riêng FDI tồn tại dưới dạng biệt khu tuy có cách bức bản địa hạn chế 1 số nguồn lợi như đã nêu nhưng lại có lợi nhiều mặt khác: Hình thức biệt khu làm cho các mặt tiêu cực của kinh tế - văn hóa ngoại quốc khó ảnh hưởng tới bản địa; là hàng rào ngăn cách tầm ngắm tò mò của nhiều con mắt soi mói ngoại quốc vào đời sống bản địa và còn là biện pháp để nước sở tại thực hiện quyền giám sát, kiểm soát của mình 1 cách hữu hiệu, đồng thời trong 1 chừng mực nào đó hình thức biệt khu cũng là điều kiện thuận lợi cho các nước sở tại thực hiện tập trung có hiệu quả các nguồn nội lực để phát huy ngoại lực. + Các công ty liên doanh nội-ngoại, các tổ hợp khai thác bởi các công ty trong ngoài nước thực sự là con đường cho nước sở tại thực hiện đồng thời các ý đồ quản lý của mình. 3. Xuất nhập khẩu trí tuê: gồm có: a. Xuất nhập khẩu trí thức: là xuất nhập khẩu trí tuệ dưới dạng các chuyên gia mang trí tuệ được gọi là trí thức: giáo sư, viện sỹ, nhà nghiên cứu, giảng viên...; bao gồm các hình thức sau: + Xét theo chiều chuyển động của trí thức có: - Xuất nhập khẩu tại chỗ là hình thức theo đó nước có trí thức tiếp nhận học sinh, sinh viên, nghiên cứu sinh, thực tập sinh, nghiên cứu viên sang nước mình để đội ngũ trí thức nước nhà truyền thụ kiến thức cho họ. Theo hình thức này các chuyên gia không xuất dương nhưng trí thức của đất nước vẫn vượt biên giới đến nơi cần nhập khẩu trí thức. - Xuất nhập khẩu qua biên giới là việc đưa trí thức qua biên giới tới nơi cần nhập khẩu trí tuệ. + Xét theo phương diện truyền đạt trí tuệ: - Xuất nhập khẩu các nhà giáo, theo hình thức này, chuyên gia mang trí tuệ thực hiện chức năng nhà giáo. - Xuất nhập khẩu các nhà tư vấn khoa học: chuyên gia mang trí tuệ thực hiện chức năng nhà tư vấn khoa học kỹ thuật. - Xuất nhập khẩu các chuyên gia nghiên cứu trực tiếp: các chuyên gia mang trí tuệ ra sử dụng trực tiếp vào việc nghiên cứu các vấn đề kỹ thuật hay thực tiễn của nước cần nhập khẩu trí tuệ, sau đó để lại kết quả nghiên cứu cho nước sở tại. + Vai trò tác dụng của xuất nhập khẩu trí thức: - Đối với nước nhập khẩu, đây là hình thức nhập khẩu trí tuệ có hiệu quả cao, vì nó tạo nên đội ngũ con người có trí tuệ. - Đối với nước xuất khẩu: đây là con đường để các nước chưa có nền công nghiệp hiện đại, cơ sở vật chất cho giảng dạy và nghiên cứu còn thấp kém nhưng có đội ngũ trí thức giỏi về hướng dẫn nghiên cứu, vẫn có thể phát huy thế mạnh của mình góp phần phục hưng đất nước, đặc biệt là con đường xuất khẩu trí thức qua biên giới. b. Xuất nhập khẩu tri thức: là hình thức xuất nhập khẩu trí tuệ trong đó trí tuệ đã thoát ly khỏi nhà khoa học để tồn tại dưới dạng nào đó có khả năng truyền tới người khác. + Hình thức: là việc mang xuất nhập khẩu trí tuệ tồn tại dưới dạng sách giáo khoa, các đồ án, các băng đĩa ghi âm, ghi hình biểu đạt trí thức. + Vai trò: xuất nhập khẩu tri thức là hình thức xuất nhập khẩu trí tuệ quan trọng nhất, vì khả năng quảng bá rộng lớn của nó và nhiều thuận lợi khác. c. Xuất nhập khẩu vật tư kỹ thuật: là hình thức xuất nhập khẩu trí tuệ, trong đó trí tuê không chỉ không còn nằm trong đầu các nhà khoa học hay thể hiện trên bản vẽ, công thức mà biến thành vật chất kỹ thuật có khả năng tham gia ngay vào công việc của con người. + Hình thức: được thể hiện dưới dạng như: vật liệu mới với các tính chất siêu tự nhiên; nhiên liệu mới với nhiệt lượng cao; nguồn năng lượng mới với những tính năng siêu việt; thiết bị, công cụ mới với tính năng, tác dụng mới. + Vai trò: - Hình thức xuất nhập khẩu này là hình thức xuất nhập khẩu trí tuệ có vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng đối với các nước chưa phát triển cao về kinh tế, khoa học và công nghệ. Đây cũng là hình thức có lợi đối với các cường quốc công nghiệp phát triển nơi vừa có dư trí tuệ, vừa có dư khả năng để vật chất hóa trí tuệ đó trước khi để xuất khẩu. - Trên thực tế có nhiều nước chưa có đủ khả năng sử dụng các trí thức, tri thức nên phải nhập khẩu trực tiếp các vật tư kỹ thuật mới có thể biến chúng thành lực lượng sản xuất của đất nước mình. d. Xuất nhập khẩu công trình công nghiệp: là 1 dạng cao hơn về chất của xuất nhập khẩu vật tư kỹ thuật. Trong hình thức này, trí tuệ của nước xuất khẩu không chỉ được vật hóa thành vật tư kỹ thuật mà còn được đồng bộ hóa, xây lắp thành công trình công nghiệp khiến nước nhập khẩu trí tuệ này có thể sử dụng ngay vào đất nước họ. + Hình thức: - BT: Đây là sự mua bán đứt đoạn các công trình trí tuệ công nghiệp, là hình thức mua bán thông thường. - BOT: là sự mua bán gián đoạn các công trình trí tuệ công nghiệp, người bán không bán ngay mà tiến hành khai thác 1 thời gian trước khi chuyển giao. - BTO: là sự mua bán có kèm theo sự cố vấn hậu mãi về kỹ thuật và công nghệ của bên bán do yêu cầu của bên mua . + Vai trò: Đây là hình thức xuất nhập khẩu trí tuệ có vai trò quan trọng nhất trong giai đoạn hiện nay, nó là hình thức kết hợp cả 2 quan hệ trao đổi, đó là quan hệ trao đổi trí tuệ và quan hệ trao đổi tư bản. 4. Xuất nhập khẩu dịch vụ: là các hình thức dịch vụ quốc tế nhằm thu ngoại tệ, gồm có các lĩnh vực chủ yếu sau: Dịch vụ vận chuyển quốc tế, dịch vụ bảo hiểm quốc tế, dịch vụ du lịch quốc tế, dịch vụ viễn thông quốc tế, dịch vụ ngoại hối, dịch vụ xuất khẩu lao động. Vai trò: tại các nước phát triển dịch vụ thu ngoại tệ đóng vai trò rất quan trọng trong hoạt động kinh tế quốc tế. Một mặt các dịch vụ này hỗ trợ tổng thể hoạt động kinh tế đối ngoại phát triển, mặt khác còn đem lại nguồn thu ngoại tệ rất lớn cho đất nước. II. Trong điều kiện hiện nay của nước ta phải ưu tiên áp dụng hình thức nào, vì sao? Câu 18: Khái niệm, vai trò các hình thức chủ yếu của xuất nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ. Liên hệ để làm rõ những tiêu cực phát sinh trong hoạt động xuất nhập khẩu ở Việt Nam. I. Xuất nhập khẩu hàng hóa: a. Nguồn gốc xuất nhập khẩu hàng hóa là sự trao đổi, mua bán hàng hoá ra khỏi phạm vi biên giới của 1 đất nước. Xuất nhập khẩu hàng hóa từ các nguyên nhân: + Do sự khác nhau về các đặc sản tự nhiên, về tài nguyên. Mỗi nước đều có 1 hoặc 1 số loại tài nguyên nào đó, cũng đồng thời thiếu hụt 1 số loại tài nguyên nào đó. + Do sự khác nhau về sở trường lao động truyền thống thường thể hiện ở tay nghề thủ công, ở sản phẩm mang nét văn hóa địa phương. + Do sự phân công chuyên môn hóa giữa các nước nhằm tối ưu hóa qui mô sản xuất, sự hình thành và phát triển các khu chế xuất tạo ra khả năng xuất khẩu cao với sản phẩm chế biến sâu, thay đổi cơ cấu hàng xuất khẩu theo hướng tiến bộ và hiệu quả. Với những lý do này, sản xuất sẽ thiên lệch, trong khi tiêu dùng lại cần toàn diện và cân đối. Điều này sinh ra mâu thuẫn trong cung - cầu hàng hoá. Để giải quyết mâu thuẫn cần có xuất nhập khẩu hàng hoá. b. Các hình thức xuất nhập khẩu hàng hóa: + Xét theo các mức độ chính thống có: - Xuất nhập khẩu chính ngạch: Các hoạt động ngoại thương có bản hiệu, có giấy phép, có hợp đồng do các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu tiến hành. + Xuất nhập khẩu không chính ngạch (tiểu ngạch) là hoạt động ngoại thương dân cư, có tính tiểu thương, vùng biên do dân cư tiến hành. + Theo tính chất kinh tế có: - Xuất nhập khẩu mậu dịch: hàng hoá qua biên giới theo con đường mua bán kinh doanh. + Xuất nhập khẩu phí mậu dịch: hàng hoá qua biên giới với tính chất mua để dùng, hàng quà tặng. + Theo phạm vi luân chuyển hàng hóa có: - Xuất nhập khẩu qua biên giới là hành vi xuất hàng ra nước ngoài. - Xuất nhập khẩu tại chỗ: hành vi bán hàng cho người nước ngoài tại nước mình nhưng theo giá xuất khẩu hay theo chế độ giá đặc thù. c. Vai trò tác dụng của xuất nhập khẩu hàng hóa: + Thúc đẩy và đảm bảo vai trò cho chuyên môn hóa sản xuất của mỗi quốc gia có điều kiện đi vào chiều sâu, ổn định. + Góp phần làm phong phú thị trường hàng hóa trong nước. + Góp phần tận thu các nguồn lợi quốc gia. + Góp phần kích thích sản xuất trong nước, nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm. Ngoài tác dụng chung, mỗi hình thức xuất nhập khẩu hàng hoá cụ thể còn có tác dụng riêng, ví dụ: xuất nhập khẩu tại chỗ có nhiều ưu điểm trong điều kiện hiện nay ở nước ta. II. Tiêu cực phát sinh trong xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ: - Chèn ép nội hóa: Có nhiều quốc gia có lợi thế sản xuất nên có thể bán ra nước ngoài những hàng hóa với giá siêu hạ mà chính họ không bị lỗ trong khi đó những hàng hóa siêu hạ này sẽ bóp chết sản xuất trong nước. - Tiết lộ bí mật công nghệ quốc gia: hàng hóa là bản tin sống động về thành tựu kinh tế khoa học công nghệ. Nhiều cường quốc có trình độ cao về khoa học-công nghệ chỉ cần căn cứ vào sản phẩm mua được là có thể truy tìm được nguồn gốc, chất liệu, phương pháp công nghệ và hệ thống thiết bị cần có để làm nên sản phẩm. Khi đó họ sẽ sản xuất được với chất lượng tốt hơn nguyên bản với chi phí thấp hơn nhiều. - Ô nhiễm môi trường: Hàng hóa nước ngoài vào mỗi nước mang theo điều hay và không ít điều dở. Trong chất lượng sản phẩm thường có vấn đề cả về mặt chất lẫn mặt tinh thần, văn hóa. Ngoài chất lượng sản phẩm còn theo nghĩa truyền thống đó, chất lượng sản phẩm còn có nghĩa là chất lương rác thải sinh ra sản phẩm đó. III. Liên hệ thực tế: Câu 19: Khái niệm, vai trò, các hình thức của hoạt động ngoại thương. Phân tích và lấy ví dụ thực tiễn những hạn chế cần được khắc phục trong hoạt động ngoại thương ở Việt Nam (xuất nhập khẩu hàng hoá - giống câu 18). Câu 20: Đầu tư nước ngoài (khái niêm, các hình thức chủ yếu). Vai trò của đầu tư nước ngoài ở Việt Nam. Trong bối cảnh hiện nay ở nước ta Nhà nước cần tập trung ưu tiên áp dụng hình thức nào, vì sao (xuất nhập khẩu tư bản - giống câu 17)? Câu 21: Trình bày các hình thức chủ yếu của đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam. Vai trò của Nhà nước trong tổ chức, quản lý đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam (xuất nhập khẩu tư bản trực tiếp - giống câu 17)? Câu 22: Khai niệm và các hình thức chủ yếu của hợp tác và chuyển giao khoa học - công nghệ. Trong bối cảnh hiện nay ở nước ta NN cần tập trung ưu tiên áp dụng hình thức nào, vì sao (xuất nhập khẩu vật tư kỹ thuụât và xuất nhập khẩu công trình công nghiệp - giống câu 17)? Câu 23: Các nguyên tắc cơ bản (quan điểm) trong việc thực hiện quan hệ kinh tế đối ngoại.Trong thực tiễn quản lý nhà nước đối với kinh tế đối ngoại, nhà nước đã thực hiện tốt những nguyên tắc đó chưa? I. Các nguyên tắc cơ bản (quan điểm) trong việc thực hiện quan hệ kinh tế đối ngoại: 1. Coi phát triển kinh tế đối ngoại là 1 tất yếu khách quan của đất nước nhằm phát triển kinh tế xã hội theo định hướng XHCN. Về mặt chủ quan nước ta không thể không mở cửa nếu không muốn tụt hậu. Về mọi mặt của sự phát triển kinh tế chúng ta đều có thế mạnh và thế yếu, phải quan hệ kinh tế quốc tế để khai thác thế mạnh bù đắp thế yếu, phát huy nội lực tranh thủ ngoại viện chính là với nghĩa ấy. Về mặt khách quan đã đến lúc cho phép nước ta mở rộng quan hệ quốc tế. Đây chính là sự chuyển biến của tình hình quốc tế theo hướng chuyển từ đối đầu sang đối thoại, hội nhập để phát triển. 2. Bảo đảm độc lập chủ quyền, bình đẳng, cùng có lợi, phát huy cao độ nội lực, dùng nội lực để thu hút ngoại lực, hướng ngoại lực để phục vụ tốt mục tiêu tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội nước ta: Nguyên tắc này định rõ nội dung lợi ích bao gồm cả chính trị, kinh tế và định rõ biện pháp hàng đầu là phát huy nội lực. 3. Giành và phát huy lợi thế trong phân công lao động quốc tế: Đòi hỏi phải giành quyền lợi trong phân công lao động quốc tế, có vậy mới có thể vừa hội nhập vừa độc lập. Việt Nam ta có những thuận lợi đáng kể về cả 3 mặt: con người, tài nguyên và vị trí. 4. Đa phương hóa các quan hệ kinh tế đối ngoại: Trước đây trong quan hệ kinh tế quốc tế chúng ta chỉ giới hạn trong các nước XHCN, nay chúng ta đã và sẽ quan hệ với nhiều quốc gia có chế độ chính trị khác nhau, có thế mạnh kinh tế khác nhau. Vì thế, cần chọn đúng đối tượng và hợp tác ở từng lĩnh vực đang cần thiết cho sự phát triển của đất nước. Cần xây dựng tín nhiệm với các đối tác quốc tế, thực hiện nghiêm chỉnh các cam kết quốc tế trong hoạt động kinh tế đối ngoại. Cần giữ được thị trường truyền thống; quan hệ hợp tác với Trung Quốc, Lào, Campuchia, Trung đông, châu Mỹ, châu phi; các nước ASEAN; Mỹ, Tây âu; khai thác nguồn lực của người Việt Nam định cư ở nước ngoài. 5. Đa dạng hóa các hoạt động kinh tế đối ngoại: Đây là điều mang tính qui luật, mang tính khách quan của quá trình phát triển, phát huy được nội lực trong nước và khai thác các cơ hội bên ngoài.Vì vậy cần đa dạng hóa các hoạt động kinh tế đối ngoại, xử lý chúng trong 1 tổng thể. 6. Lấy hiệu quả làm tiêu chuẩn để đánh giá hoạt động kinh tế đối ngoại: ở đây nhấn mạnh mục đích cao nhất, mục đích cuối cùng của mở cửa về kinh tế là nhằm mục đích đạt được hiệu quả, trong đó hiệu quả bao giờ cũng phải được hiểu 1 cách toàn diện trên giác độ toàn xã hội và trong tương lai dài không phiến diện, thiển cận. Hiệu quả kinh tế đối ngoại là 1 chỉ tiêu về thước đo năng lực quản lý Nhà nước, của Chính phủ và các Bộ, ngành cùng UBND cấp tỉnh, thành phố. 7. Đổi mới toàn diện và triệt để về quản lý nhà nước đối với kinh tế đối ngoại theo các nguyên tắc chung của quản lý nhà nước về kinh tế với tinh thần ưu tiên đổi mới quản lý nhà nước đối với kinh tế đối ngoại, tạo sự thuận lợi tối đa cho mở cửa, thu hút tối đa ngoại lực. II. Liên hệ thực tế: Câu 24: Trình bày các quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà nước ta trong quản lý kinh tế đối ngoại. Quá trình mở cửa hội nhập kinh tế tạo ra cơ hội và thách thức gì đối với nền kinh tế Việt Nam. I. Trình bày các quan điểm cơ bản của Đảng và NN ta trong quản lý kinh tế đối ngoại. 1. Coi phát triển kinh tế đối ngoại là 1 tất yếu khách quan của đất nước nhằm phát triển kinh tế xã hội theo định hướng XHCN. Về mặt chủ quan nước ta không thể không mở cửa nếu không muốn tụt hậu. Về mọi mặt của sự phát triển kinh tế chúng ta đều có thế mạnh và thế yếu phải quan hệ kinh tế quốc tế để khai thác thế mạnh bù đắp thế yếu, phát huy nội lực tranh thủ ngoại viện chính là với nghĩa ấy. Về mặt khách quan đã đến lúc cho phép nước ta mở rộng quan hệ quốc tế. Đây chính là sự chuyển biến của tình hình quốc tế theo hướng chuyển từ đối đầu sang đối thoại, hội nhập để phát triển. 2. Bảo đảm độc lập chủ quyền, bình đẳng, cùng có lợi, phát huy cao độ nội lực, dùng nội lực để thu hút ngoại lực, hướng ngoại lực để phục vụ tốt mục tiêu tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội nước ta: Nguyên tắc này định rõ nội dung lợi ích bao gồm cả chính trị, kinh tế và định rõ biện pháp hàng đầu là phát huy nội lực. 3. Giành và phát huy lợi thế trong phân công lao động quốc tế: Đòi hỏi phải giành quyền lợi trong phân công lao động quốc tế, có vậy mới có thể vừa hội nhập vừa độc lập. Việt Nam ta có những thuận lợi đáng kể về cả 3 mặt: con người, tài nguyên và vị trí. 4. Đa phương hóa các quan hệ kinh tế đối ngoại: Trước đây trong quan hệ kinh tế quốc tế chúng ta chỉ giới hạn trong các nước XHCN, nay chúng ta đã và sẽ quan hệ với nhiều quốc gia có chế độ chính trị khác nhau, có thế mạnh kinh tế khác nhau. Vì thế cần chọn đúng đối tượng và hợp tác ở từng lĩnh vực đang cần thiết cho sự phát triển của đất nước. Cần xây dựng tín nhiệm với các đối tác quốc tế, thực hiện nghiêm chỉnh các cam kết quốc tế trong hoạt động kinh tế đối ngoại. Cần giữ được thị trường truyền thống, quan hệ hợp tác với Trung Quốc, Lào, Campuchia, Trung đông, châu Mỹ, châu phi; các nước ASEAN; Mỹ, Tây âu; khai thác nguồn lực của người Việt NamN định cư ở nước ngoài. 5. Đa dạng hóa các hoạt động kinh tế đối ngoại: Đây là điều mang tính qui luật, mang tính khách quan của quá trình phát triển, phát huy được nội lực trong nước và khai thác các cơ hội bên ngoài.Vì vậy cần đa dạng hóa các hoạt động kinh tế đối ngoại, xử lý chúng trong 1 tổng thể. 6. Lấy hiệu quả làm tiêu chuẩn để đánh giá hoạt động kinh tế đối ngoại: ở đây nhấn mạnh mục đích cao nhất, mục đích cuối cùng của mở cửa về kinh tế là nhằm mục đích đạt được hiệu quả, trong đó hiệu quả bao giờ cũng phải được hiểu 1 cách toàn diện trên giác độ toàn xã hội và trong tương lai dài không phiến diện, thiển cận. Hiệu quả kinh tế đối ngoại là 1 chỉ tiêu về thước đo năng lực quản lý Nhà nước, của Chính phủ và các Bộ, ngành cùng UBND cấp tỉnh, thành phố. 7. Đổi mới toàn diện và triệt để về quản lý nhà nước đối với kinh tế đối ngoại theo các nguyên tắc chung của quản lý nhà nước về kinh tế với tinh thần ưu tiên đổi mới quản lý nhà nước đối với kinh tế đối ngoại, tạo sự thuận lợi tối đa cho mở cửa, thu hút tối đa ngoại lực. II. Quá trình mở cửa hội nhập kinh tế tạo ra cơ hội và thách thức gì đối với nền kinh tế Việt Nam (Tài liệu của cô giáo). Câu 25: Khái niệm về kinh tế đối ngoại. Phân tích quan điểm đa phương hóa, đa dạng hóa các hoạt động kinh tế đối ngoại. I. Khái niệm về kinh tế đối ngoại: Kinh tế đối ngoại là 1 bộ phận quan trọng của nền kinh tế quốc dân bao gồm nhiều ngành kinh tế, qua đó 1 quốc gia tham gia vào sự trao đổi quốc tế và phân công lao động quốc tế. Kinh tế đối ngoại gồm tổng thể các hoạt động, các hoạt động kinh tế tài chính và khoa học - kỹ thuật của 1 nước với các nước khác và các tổ chức kinh tế quốc tế. Nội dung chủ yếu trong hoạt động kinh tế đối ngoại Việt Nam bao gồm: Ngoại thương, Đầu tư vốn nước ngoài vào Việt Nam, đầu tư vốn của Việt Nam ra nước ngoài, hợp tác và chuyển giao công nghệ, hoạt động của các dịch vụ có thu ngoại tệ. II. Phân tích quan điểm đa phương hóa, đa dạng hóa (Tài liệu của cô giáo). chương IV Câu 26: Khái niệm dự án đầu tư. Phân tích các bộ phận cấu thành dự án đầu tư. Trong điều kiện hiện nay NN ta cần tập trung giải quyết những vấn đề gì để thực hiện có hiệu quả các dự án đầu tư. I. Khái niệm dự án đầu tư: 1. Dự án đầu tư nói chung là 1 dự định hành động nào đó đã được lập thành phương án hành động cụ thể, tới mức căn cứ vào đó người ta có thể đánh giá chính xác để phê chuẩn dự định hành động đó hoặc chỉ cần dựa theo đó, dự định hành động sẽ được thực thi 1 cách suôn sẻ. 2. Dự án đầu tư là 1 trong các loại dự án có các đặc trưng sau: + Có mục tiêu, mục đích cụ thể. + Có 1 hình thức tổ chức xác định để thực hiện dự án đầu tư. + Cần tạo ra tiền đề cơ sở vật chất nào đó để đạt mục tiêu, mục đích nói trên. + Có sử dụng vốn để đầu tư tạo dựng phương tiện cho việc thực hiện mục đích đã định. + Có 1 khoảng thời gian nhất định để thực hiện mục tiêu dự án. 3. Vai trò: + Giúp chủ dự án kiểm tra tính cấp thiết, tính khả thi của hành động đầu tư. + Dự án là biện pháp thống nhất hành động khi tiến hành 1 hành động do nhiều người, nhiều tổ chức tham gia. + Dự án là cơ sở để Nhà nước hiểu tường tận ý dân khi các dự án là của công dân. II. Các bộ phận cấu thành dự án đầu tư: 1. Lý do đầu tư: a. Nội dung: + Nhu cầu xã hội về 1 loại sản phẩm, 1 loại dịch vụ hoặc 1 nhu cầu phi vật chất nào đó và tính cấp thiết không thể trì hoãn việc đáp ứng các nhu cầu đó. Tính bức xúc của nhu cầu phải được thuyết minh. + Những giải pháp hiện có và những bất cập của các giải pháp đó. + Tác dụng đưa lại nếu dự án được thực thi, những chỉ tiêu thực hiện mục đích, yêu cầu mục tiêu mà dự án theo đuổi. b. Mục đích, tác dụng: + Đối với các dự án của nhà nước đây là phần quan trọng để cấp dưới thuyết phục cấp trên ủng hộ dự án của mình. + Đối với các chủ đầu tư tư nhân, đây là phần thăm dò cơ hội đầu tư. Nội dung phần này quyết định tương lai, vận mệnh kinh tế của đồng vốn bỏ ra, quyết định mức độ rủi ro, đen đỏ của cuộc chơi kinh tế của mỗi người trên con đường lập nghiêp, nên người làm dự án không làm bừa làm ẩu. 2. Thiết kế công trình: là phần thể hiện công trình vật chất được tạo ra sau khi hoàn thành giai đoạn xây dựng cơ bản, thực ra đây là phần thiết kế kỹ thuật gồm có: bản vẽ phối cảnh công trình, sơ đồ tổng mặt bằng công trình và bản vẽ kỹ thuật, chi tiết để thi công. 3. Bảng tổng hợp các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật của dự án: a. Nội dung: Bao gồm các chỉ tiêu thể hiện kết quả XDCB; các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật và chỉ tiêu hiệu quả kinh tế. Bảng tổng hợp này là căn cứ chủ yếu để xem xét, lựa chọn phương án đầu tư tối ưu. Thường thì mỗi dự án có nhiều phương án và các phương án có thể là của 1 nhà đầu tư, cũng có thể của nhiều nhà đầu tư, trong đó mỗi nhà đầu tư trình 1 dự án của mình. Sau đó các nhà đầu tư bảo vệ dự án của mình thông qua đấu thầu. 4. Các giải pháp thực hiện dự án: a. Nội dung thường đề cấp đến các vấn đề sau: + Nguồn gốc đối với các dự án xin ngân sách Nhà nước cấp. + Nguồn gốc tri thức trí tuệ. + Giải pháp về nhân lực cho hoạt động của công trình đầu tư sau khi bước vào khai thác. + Giải pháp về đền bù đất đai, giải phóng mặt bằng. + Các giải pháp đặc thù khác liên quan đến từng loại chuyên ngành. b. Tầm quan trọng: Đây là phần khẳng định tính khả thi của dự án, nếu không được làm chu đáo không những làm cho dự án không được thực thi mà còn làm uổng phí toàn bộ chi phí cho việc xây dựng các phần đã nói ở trên của dự án. Do đó về phương diện nào đó phần giải pháp cũng là 1 căn cứ quan trọng để 1 dự án được duyệt khi trình duyệt, trúng thầu khi đấu thầu. 5. Tổng tiến độ triển khai dự án: Đây là kế hoạch thi công do chủ dự án lập ra để làm cơ sở cho việc đàm phán với bên thi công. Kế hoạch này chỉ cần sơ bộ đề cập đến: Tiến độ chung hoàn thành các hạng mục công trình, trách nhiệm nhiệm vụ phối hợp với cơ quan thi công của chủ đầu tư, quyền hạn của chủ đầu tư, chế độ nghiệm thu thanh lý quyết toán công trình. III. Trong điều kiện hiện nay Nhà nước ta cần tập trung giải quyết những vấn đề gì để thực hiện có hiệu quả các dự án đầu tư: 1. Sáng kiến đầu tư: Các cấp Nhà nước theo thẩm quyền phát triển kinh tế xã hội, thẩm quyền chi ngân sách, căn cứ vào định hướng chung của nhà nước cấp trên, vào nhu cầu thực tế của cộng đồng địa bàn mình quản lý, đề xuất các ý tưởng đầu tư bằng ngân sách nhà nước cấp, lên chương trình các vấn đề giải quyết bằng đầu tư. 2. Lựa chọn chủ dự án và xác định rõ trách nhiệm của chủ dự án: Chủ dự án đầu tư là người đại diện cho nhà nước về mặt sở hữu vốn và có trách nhiệm như sau: + Trực tiếp thực hiện hoặc thuê các tổ chức tư vấn và các doanh nghiệp có tư cách pháp nhân lập, hoặc thẩm định dự án do các tổ chức tư vấn khác lập; quản lý dự án, thực hiện dự án đầu tư thông qua hợp đồng kinh tế theo pháp luật hiện hành. + Chủ đầu tư có thể sử dụng nhiều nguồn vốn khác nhau theo qui định để thực hiện dự án và có trách nhiệm toàn diện, liên tục về quản lý sử dụng các nguồn vốn đầu tư. 3. Tổ chức quản lý bộ máy nhà nước: Nội dung cụ thể 4 dạng chủ yếu để thành lập và cách thức tồn tại của bộ máy quản lý thực hiện dự án: + Bộ máy quản lý theo chức năng của đơn vị trong tổ chức: theo cách tổ chức này, thực chất là giao thêm việc cho các bộ phận chức năng đã có trong 1 tổ chức. Cách tổ chức này không làm thay đổi nhân sự của tổ chức, không làm cho tổ chức biến động. + Bộ máy quản lý dự án độc lập: Tức là tổ chức thành 1 bộ phận mới làm chức năng quản lý dự án và sự tồn tại của bộ này gắn với chức năng quản lý dự án và hoàn toàn độc lập về quản lý với các bộ phận chức năng khác của tổ chức. + Mô hình tổ chức bộ máy cán bộ quản lý hỗn hợp: Với mô hình này, các dự án đều có bộ máy quản lý riêng nhưng không có đội ngũ cán bộ làm việc chuyên trách cho dự án như trong mô hình độc lập. Ban điều hành phải nhờ các cán bộ của các bộ phận chức năng của tổ chức tham gia quản lý dự án. + Mô hình tổ chức quản lý dự án theo mạng: Mô hình này đang được ứng dụng để quản lý các dự án hoạt động trong môi trường có nhiều biến động và có nhiều vấn đề, mục tiêu phải giải quyết. 4. Công bố nhu cầu, kêu gọi dân chúng, các nhà thầu tham gia đấu thầu các đề tài được nêu trong chương trình: Đây là khâu đầu trong toàn phần tìm người để thực thi dự án. Nó báo cho tất cả mọi nh\gười muốn làm thuê cho nhà nước hãy đến tham gia dự tuyển. 5. Tổ chức đấu thầu, chọn người thi công thuê cho nhà nước: bao gồm những công việc sau: + Tổ chức bộ máy quản lý của bên A. + Tiếp nhận đăng ký của bên A. + Tiếp nhận đăng ký đấu thầu. + Giao bài thi đấu, thực chất là giới thiệu công việc, cần thuê người làm (được đưa ra ở mục đấu thầu). + Giám khảo đấu thầu, chọn người xứng đáng. 6. Ký hợp đồng với nhà trúng thầu: Hợp đồng theo đúng mẫu thống nhất của nhà nước trung ương trong qui chế đấu thầu. Chủ đầu tư căn cứ vào thẩm quyền được giao tiến hành ký hoặc trình cấp có thẩm quyền quyết định dự thảo hợp đồng. 7. Quản lý quá trình thi công: + Phối hợp với bên B lập kế hoạch tổng thể chu trình thực hiện dự án. + Thực hiện nghĩa vụ của bên A với các điều khoản trong hợp đồng và quyền chủ sở hữu vốn của mình. Câu 27: Khái niệm dự án đầu tư. Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả của dự án đầu tư. I. Khái niệm dự án đầu tư. 1 Dự án đầu tư nói chung là 1 dự định hành động nào đó đã được lập thành phương án hành động cụ thể, tới mức căn cứ vào đó người ta có thể đánh giá chính xác để phê chuẩn dự định hành động đó hoặc chỉ cần dựa theo đó, dự định hành động sẽ được thực thi 1 cách suôn sẻ. 2. Dự án đầu tư là 1 trong các loại dự án có các đặc trưng sau: + Có mục tiêu, mục đích cụ thể. + Có 1 hình thức tổ chức xác định để thực hiện dự án đầu tư. + Cần tạo ra tiền đề cơ sở vật chất nào đó để đạt mục tiêu, mục đích nói trên. + Có sử dụng vốn để đầu tư tạo dựng phương tiện cho việc thực hiện mục đích đã định. + Có 1 khoảng thời gian nhất định để thực hiện mục tiêu dự án. 3. Vai trò: + Giúp chủ dự án kiểm tra tính cấp thiết, tính khả thi của hành động đầu tư. + Dự án là biện pháp thống nhất hành động khi tiến hành 1 hành động do nhiều người, nhiều tổ chức tham gia. + Dự án là cơ sở để Nhà nước hiểu tường tận ý dân khi các dự án là của công dân. II. Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả của dự án đầu tư: - Tính hợp lý của dự án: thể hiện ở mục đích của dự án. - Sự ủng hộ và hỗ trợ của cơ quan cáp trên. Nếu không có sự hỗ trợ của các nhà quản lý cấp trên thì không có dự án nào thành công. Sự ủng hộ, hỗ trợ này là điều kiện để có được nguồn lực và thẩm quyền. - Chất lượng của dự án: thể hiện ở mực độ toàn diện, chi tiết cụ thể của dự án và tính chính xác của các giải pháp. - Sự tham gia ý kiến và sự chấp thuận của khách hàng. - Có nhân sự tốt cho dự án. Đây là vấn đề quan trọng, phải chọn nhân sự thích hợp cho từng loại dự án. - Chất lượng và sức hấp dẫn của hàng hóa mà dự án tạo ra. Đậy chính là cơ chế thị trường. Mọi dự án đều có nhiều đối thủ cạnh tranh để thắng được đối thủ phải trội hơn về: giá cả thấp hoặc chất lượng cao, nếu đạt được cả hai thì tốt, còn không phải đạt được 1 trong 2 mặt trên. - Có sự dự phòng chu đáo các phương án xử lý tốt những sự cố phát sinh. Trên thực tế chúng ta không lường hết được những khó khăn, sự cố khi thực hiện dự án, khi gặp những vấn đề náy, phải kiểm soát tốt tình hình. Câu 28: Các bộ phận cấu thành dự án ĐT. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả của dự án ĐT. NN ta cần tập trung giải quyết những vấn đề gì để thực hiện có hiệu quả các dự án đầu tư. I. Các bộ phận cấu thành dự án đầu tư: 1. Lý do đầu tư: a. Nội dung: + Nhu cầu xã hội về 1 loại sản phẩm, 1 loại dịch vụ hoặc 1 nhu cầu phi vật chất nào đó và tính cấp thiết không thể trì hoãn việc đáp ứng các nhu cầu đó. Tính bức xúc của nhu cầu phải được thuyết minh. + Những giải pháp hiện có và những bất cập của các giải pháp đó. + Tác dụng đưa lại nếu dự án được thực thi, những chỉ tiêu thực hiện mục đích, yêu cầu mục tiêu mà dự án theo đuổi. b. Mục đích, tác dụng: + Đối với các dự án của nhà nước đây là phần quan trọng để cấp dưới thuyết phục cấp trên ủng hộ dự án của mình. + Đối với các chủ đầu tư tư nhân, đây là phần thăm dò cơ hội đầu tư. Nội dung phần này quyết định tương lai, vận mệnh kinh tế của đồng vốn bỏ ra, quyết định mức độ rủi ro, đen đỏ của cuộc chơi kinh tế của mỗi người trên con đường lập nghiêp, nên người làm dự án không làm bừa làm ẩu. 2. Thiết kế công trình: là phần thể hiện công trình vật chất được tạo ra sau khi hoàn thành giai đoạn xây dựng cơ bản, thực ra đây là phần thiết kế kỹ thuật gồm có: bản vẽ phối cảnh công trình, sơ đồ tổng mặt bằng công trình và bản vẽ kỹ thuật, chi tiết để thi công. 3. Bảng tổng hợp các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật của dự án: a. Nội dung: Bao gồm các chỉ tiêu thể hiện kết quả XDCB; các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật và chỉ tiêu hiệu quả kinh tế. Bảng tổng hợp này là căn cứ chủ yếu để xem xét, lựa chọn phương án đầu tư tối ưu. Thường thì mỗi dự án có nhiều phương án và các phương án có thể là của 1 nhà đầu tư, cũng có thể của nhiều nhà đầu tư, trong đó mỗi nhà đầu tư trình 1 dự án của mình. Sau đó các nhà đầu tư bảo vệ dự án của mình thông qua đấu thầu. 4. Các giải pháp thực hiện dự án: a. Nội dung thường đề cấp đến các vấn đề sau: + Nguồn gốc đối với các dự án xin ngân sách Nhà nước cấp. + Nguồn gốc tri thức trí tuệ. + Giải pháp về nhân lực cho hoạt động của công trình đầu tư sau khi bước vào khai thác. + Giải pháp về đền bù đất đai, giải phóng mặt bằng. + Các giải pháp đặc thù khác liên quan đến từng loại chuyên ngành. b. Tầm quan trọng: Đây là phần khẳng định tính khả thi của dự án, nếu không được làm chu đáo không những làm cho dự án không được thực thi mà còn làm uổng phí toàn bộ chi phí cho việc xây dựng các phần đã nói ở trên của dự án. Do đó về phương diện nào đó phần giải pháp cũng là 1 căn cứ quan trọng để 1 dự án được duyệt khi trình duyệt, trúng thầu khi đấu thầu. 5. Tổng tiến độ triển khai dự án: Đây là kế hoạch thi công do chủ dự án lập ra để làm cơ sở cho việc đàm phán với bên thi công. Kế hoạch này chỉ cần sơ bộ đề cập đến: Tiến độ chung hoàn thành các hạng mục công trình, trách nhiệm nhiệm vụ phối hợp với cơ quan thi công của chủ đầu tư, quyền hạn của chủ đầu tư, chế độ nghiệm thu thanh lý quyết toán công trình. II. Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả của dự án đầu tư: - Tính hợp lý của dự án: thể hiện ở mục đích của dự án. - Sự ủng hộ và hỗ trợ của cơ quan cáp trên. Nếu không có sự hỗ trợ của các nhà quản lý cấp trên thì không có dự án nào thành công. Sự ủng hộ, hỗ trợ này là điều kiện để có được nguồn lực và thẩm quyền. - Chất lượng của dự án: thể hiện ở mực độ toàn diện, chi tiết cụ thể của dự án và tính chính xác của các giải pháp. - Sự tham gia ý kiến và sự chấp thuận của khách hàng. - Có nhân sự tốt cho dự án. Đây là vấn đề quan trọng, phải chọn nhân sự thích hợp cho từng loại dự án. - Chất lượng và sức hấp dẫn của hàng hóa mà dự án tạo ra. Đậy chính là cơ chế thị trường. Mọi dự án đều có nhiều đối thủ cạnh tranh để thắng được đối thủ phải trội hơn về: giá cả thấp hoặc chất lượng cao, nếu đạt được cả hai thì tốt, còn không phải đạt được 1 trong 2 mặt trên. - Có sự dự phòng chu đáo các phương án xử lý tốt những sự cố phát sinh. Trên thực tế chúng ta không lường hết được những khó khăn, sự cố khi thực hiện dự án, khi gặp những vấn đề náy, phải kiểm soát tốt tình hình. III. Nhà nước ta cần tập trung giải quyết những vấn đề gì để thực hiện có hiệu quả các dự án đầu tư: - Sáng kiến đầu tư. - Lựa chọn chủ dự án và xác định rõ trách nhiệm của chủ dự án - Tổ chức quản lý bộ máy nhà nước. - Công bố nhu cầu, kêu gọi dân chúng, các nhà thầu tham gia đấu thầu các đề tài được nêu trong chương trình. - Tổ chức đấu thầu, chọn người thi công thuê cho nhà nước. - Ký hợp đồng với nhà trúng thầu. - Quản lý quá trình thi công. Câu 29: Vai trò và tác dụng của dự án đầu tư. Phân tích tổng quát về các bước soạn thảo 1 dự án đầu tư. Vai trò của nhà nước (chính quyền địa phương) trong quản lý nhà nước đối với dự án đầu tư. I. Vai trò và tác dụng của dự án đầu tư. - Dự án giúp chủ dự án kiểm tra tính cấp thiết, tính khả thi của hành động đầu tư. - Dự án là biện pháp thống nhất hành động khi tiến hành 1 hành động do nhiều người và nhiều tổ chức tham gia. - Dự án là cơ sở để nhà nước hiểu tường tận ý dân khi các dự án là của công dân. II. Các bước soạn thảo 1 dự án đầu tư: 1. Nghiên cứu cơ hội đầu tư, hình thành sáng kiến đầu tư: a. Cơ hội đầu tư là tổng thể các thành tố tạo thành bối cảnh điều kiện, môi trường thuận lợi nhất cho nhà đầu tư. Cơ hội đầu tư có 2 loại: + Cơ hội đầu tư chung. + Cơ hội đầu tư riêng. b. Sáng kiến dự án đầu tư: là sự khởi xướng đầu tư, người đầu tiên khởi xướng nên việc đầu tư được gọi là người có sáng kiến đầu tư. Sáng kiến đầu tư được chia thành 2 nhóm: + Sáng kiến đầu tư vĩ mô, chiến lược. + Sáng kiến vi mô. Sáng kiến đầu tư xuất hiện từ nhiều nguồn nhưng nhìn chung mọi sáng kiến đầu tư đều xuất hiện từ cơ hội đầu tư. Các sáng kiến vi mô thường xuất hiện trong khi có cơ hội vĩ mô, các sáng kiến vĩ mô thường xuất hiện trước cơ hội siêu vĩ mô. Đi vào thực tế tùy theo nhà đầu tư là ai các yếu tố có thể trở thành cơ sở cho sự hình thành sáng kiến đầu tư bao gồm: - Đối với các công dân, đó là các chủ trương, đường lối chiến lược phát triển kinh tế xã hội mà Đảng và Nhà nước đang quan tâm giải quyết, được thể hiện trong nghị quyết, văn kiện của Đảng và Nhà nước. - Đối với mọi chủ thể đầu tư, đó là các vấn đề cần phải giải quyết của tổ chức mình. - Đối với các chính khách quốc gia, đó là các vấn đề xuất hiện trong quá trình làm việc của họ trong hoạt động thực tiễn hàng ngày. - Đối với nhiều người cơ sở làm nảy sinh sáng kiến đầu tư còn là kinh nghiệm hoạt động quản lý của họ. - Một số sáng kiến đầu tư được hình thành rất tự nhiên trong quá trình hoạt động điều tra thị trường, tiếp xúc với các khách hàng. 2. Nghiên cứu tiền khả thi. - Nghiên cứu tiền khả thi là sự nghiên cứu nhằm vào các vấn đề có tính nguyên tắc, những vấn đề lớn ở vòng ngoài thuộc hệ thống các vấn đề cần giải quyết của 1 dự án. - Nội dung nghiên cứu tiền khả thi và nội dung dự án tiền khả thi thường không cố định cho mọi dự án khác nhau mà tùy thuộc vấn đề cụ thể, tùy thuộc chuyên môn kỹ thuật cụ thể mà dự án đề cập đến. Tuy nhiên nghiên cứu tiền khả thi thường phải giải quyết những vấn đề lớn và quan trọng sau: + Tầm quan trọng của dự án. + Nguồn nhân lực và nguồn tài chính. + Phản ứng của dân chúng. - Sự cần thiết của nghiên cứu tiền khả thi: + Những dự án có qui mô lớn, có độ phức tạp cao, chứa đựng bên trong nhiều yếu tố bất định cần được nghiên cứu để tập hợp ý kiến của các tầng lớp chuyên gia và các nhà quản lý trước tiền khả thi khi đi đến nghiên cứu khả thi vì chi phí cho công việc này thường là rất lớn. + Cung cấp thông tin cho các nhà tài trợ trước khi đi đến quyết định có nên đầu tư vào 1 dự án nào đó hay không. + Các dự án tiền khả thi là các đơn chào hàng cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước, đặc biệt là kêu gọi vốn đầu tư nước ngoài. 3. Nghiên cứu khả thi: - Nghiên cứu khả thi là nghiên cứu các vấn đề còn lại cuối cùng của tổng thể các vấn đề cần nghiên cứu của 1 dự án và đề ra các giải pháp để có thể thực thi dự án. - Đặc điểm nội dung dự án khả thi: + Tính chính xác cao so với nghiên cứu tiền khả thi. + Tính toàn diện so với nghiên cứu tiền khả thi. - Tính khả thi cần được làm rõ trong dự án tiền khả thi: + Khả thi về mặt kỹ thuật, công nghệ. + Khả thi về kinh tế, tài chính. + Khả thi về mặt chính trị xã hội. III Vai trò của nhà nước (chính quyền địa phương) trong quản lý nhà nước đối với dự án đầu tư: 1. Định hướng đầu tư, kêu gọi các nhà đầu tư tham gia dự án: a. Nội dung: + Xây dựng chiến lược, qui hoạch, kế hoạch, các đề tài dự án hay dự án. + Đề tài dự án là tên vấn đề cần giải quyết. + Tuyên truyền giới thiệu trong và ngoài nước các chiến lược, qui hoạch, kế hoạch dự án nói trên. b. Mục đích: + Đối với nhân dân trong nước chiến lược, qui hoạch, kế hoạch, các đề tài có tính chất chương trình phát triển đất nước có tác dụng làm cơ sở cho toàn dân, cho các tổ chức, công dân, cho chính quyền địa phương có sáng kiến đầu tư, từ đó hình thưnhf các dự án cụ thể. + Riêng về danh mục đề tài đầu tư hay các dự án do nhà nước công bố co tác dụng như các nhu cầu của đất nước về đầu tư được công bố thông tin cho những ai có nguyện vọng, có tài tham gia đấu thầu để được thực hiện. 2. Xây dựng hệ thống pháp luật: a. Những pháp luật và thể chế cần có cho quản lý nhà nước đối với các dự án: các hoạt động đầu tư có thể được điều chỉnh chung bằng hệ thồng pháp luật chung như: Luật Doanh nghiệp, Luật lao động, Luật tài nguyên - môi trường...Ngoài ra cần có qui phạm pháp luật chuyên biệt sau để vận dụng vào điều chỉnh hoạt động đầu tư: + Những qui định về phân loại dự án. + Những qui định về phân cấp, phân công và thẩm quyền của các cấp trong việc thẩm định và phê chuẩn dự án. b. Vai trò, tác dụng: + Đây là lĩnh vực liên quan nhiều đến quốc tế. Pháp luật là cơ sở để tao nên sự tin cậy của các nhà đầu tư quốc tế. + Đây là lĩnh vực hoạt động rất cơ bản với sự nghiệp của 1 con người, 1 tổ chức. Do vậy, mọi nhà đầu tư đều rất thận trọng khi tiến hành hoạt động trọng đại này. + Hoạt động đầu tư là hoạt động có ảnh hưởng đến mọi mặt sức mạnh quốc gia. Do vậy nhà nước phải quản lý chặt chẽ, nghiêm minh hoạt động này. 3. Tiến hành thẩm định, cấp phép các dự án của công dân: Trên cơ sơ định hướng chiến lược kế hoạch của nhà nước, các công dân và tổ chức công dân sẽ lựa chọn và quyết định đầu tư. Vì nhà nước không bỏ vốn nên không quan tâm về mặt vốn nhưng nhà nước xuất phát từ lợi hại của các dự án của nhân dân mà quyết định cho hay không cho phép thực thi. 4. Giám sát công dân thực thi dự án: Hoạt động giám sát được tiến hành trên tất cả các mặt mà nhà nước đã xem xét và phê chuẩn cho phép thực thi. 5. Phối hợp các dự án của nhà nước với hành động của công dân nhằm đồng bộ hóa dự án trên toàn quốc thành hệ thống. Nguyên tắc chung là nhà nước chỉ làm những việc công dân không được làm, không làm được và không muốn làm để không xảy ra sự què quặt trong hoạt động xã hội.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docTai lieu thi - QLNN ve KT.doc
Tài liệu liên quan