Bài giảng Cơ sở của vấn đề đổi mới công tác kế hoạch hoá ở Việt Nam

Phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, do vậy nội dung kế hoạch không đợc phép chỉ giới hạn trong phạm vi khu vực kinh tế nhà nớc mà phải mang tính tổng thể nền kinh tế. Việc đổi mới này sẽ tác động một cách sâu sắc đến tính dân chủ và công khai của kế hoạch. Ngay từ lúc dự thảo nội dung kế hoạch, các mục tiêu và biện pháp không nên và không cần phải giữ bí mật. Những công cụ thờng đợc áp dụng trong nền kinh tế KHH trớc đây phải đợc thay thế bằng những công cụ, chính sách phù hợp với nền kinh tế thị trờng định hớng XHCN.

pdf22 trang | Chia sẻ: hao_hao | Ngày: 20/06/2014 | Lượt xem: 670 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Bài giảng Cơ sở của vấn đề đổi mới công tác kế hoạch hoá ở Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
củng cố quốc phòng an ninh, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội . Kết quả đạt đợc là nền kinh tế có bớc phát triển về lực lợng sản xuất. Quan hệ sản xuất và hội nhập kinh tế quốc tế đời sống vật chất, tinh thần của nhân đân ta đợc cải thiện rõ rệt, văn hoá xã hội không ngừng tiến bộ; Thế và lực của đất nớc hơn hẳn 10 năm trớc, khả năng tự chủ đợc nâng lên, tạo thêm điều kiện đẩy mạnh CNH - HĐH đất nớc. Nguyên nhân của những kết quả này là đờng lối đổi mới đúng đắn của Đảng cùng những cố gắng và tiến bộ trong công tác quản lý của nhà nớc đã phát huy đợc nhân tố có ý nghĩa quyết định là ý chí kiên cờng, tính năng động, sáng tạo và nỗ lực phấn đấu của nhân dân ta. Chiến lợc này đợc điều chỉnh thông qua đại hội Đảng lần thứ VIII (1996) với trọng tâm đẩy mạnh CNH - HĐH đất nớc. Đây là sự mở đầu giai đoạn áp dụng phối hợp chiến lợc với quy hoạch, giữa quy hoạch với kế hoạch trung hạn và ngắn hạn trong hệ thống kế hoạch hoá. Chiến lợc phát triển kinh tế - xã hội đề ra mục tiêu tăng trởng kinh tế phù hợp có nội dung đáp ứng đợc yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nứơc, phát huy tiềm lực trong nớc và thu hút nguồn lực bên ngoài, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng các chính sách kinh tế phù hợp với điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trờng. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (2004) đã đề ra chiến lợc phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2001-2010 với mục tiêu tổng quát là: Đa nớc ta thoát khỏi tình trạng kém phát triển; Nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của nhân dân; Tạo nền tảng đến năm 2020 nớc ta cơ bản trở thành một nớc công nghiệp theo hớng hiện đại. Nguồn lực con ngời, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng, an ninh đợc tăng cờng, thể chế kinh tế thị trờng định hớng XHCN đợc hình thành về cơ bản; Vị thế của nớc ta trên trờng quốc tế đợc nâng cao. Chiến lợc phát triển KT-XH 2001-2010 đã đề ra năm quan điểm phát triển: Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trờng; Coi phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, xây dựng đồng bộ nền tảng cho một nớc công nghiệp là yêu cầu cấp thiết; Đẩy mạnh công cuộc đổi mới, tạo động lực giải phóng và phát huy mọi nguồn lực; Gắn chặt việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế; Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế xã hội với quốc phòng an ninh. Sự xuất hiện của bản chiến lợc đầu tiên đã giúp chúng ta có đợc cái nhìn rõ nét hơn về tơng lai của đất nớc, về cái đích mà đất nớc ta sẽ hớng tới, từ đó, sẽ xác định đợc hớng đi của mình một cách có cơ sở hơn và thêm tin tởng vào những chính sách Nhà nớc đề ra. 2.1.2. Về công tác quy hoạch phát triển: Không thể thiếu đợc quy hoạch trong lý thuyết và thực tiễn của KHH. Nêú chiến lợc phát triển là vạch ra các đờng nét hớng đạo cho sự phát triển trong một thời gian dài thì quy hoạch phát triển thể hiện tầm nhìn, sự bố trí chiến lựơc về thời gian va không gian lãnh thổ, xây dựng khung vĩ mô về tổ chức không gian để chủ động hớng tới mục tiêu, đạt hiệu quả cao, phát triển bền vững. Trên thực tế, tập trung sức xây dựng chiến lợc và quy hoạch phát triển, các chơng trình dự án lớn trong cả nớc và cho từng ngành, từng vùng, từng lĩnh vực. Thực hiện phơng châm này, trong những năm qua Nhà nớc đã thực hiện quy hoạch một số ngành nh: điện lực, bu chính viễn thông, giao thông vận tải các khu công nghiệp, khu chế xuất, tạo cơ sở cho sự phát triển chung của nền kinh tế, đóng góp một phần không nhỏ cho công cuộc cải cách kinh tế. Việc hình thành các vùng kinh tế trọng điểm ở miền Bắc, miền Nam và miền Trung đã tạo ra những khu vực phát triển tập trung thu hút các nhà đầu t, đặc biệt là các nhà đầu t nớc ngoài, đã làm thay đổi không những bộ mặt KT - XH ở những vùng này mà còn góp phần quan trọng cho tăng trởng của toàn nền kinh tế, tạo điều kiện thúc đẩy các vùng lân cận phát triển thành vệ tinh của những cực phát triển trên. Nhìn chung công tác quy hoạch đã có những cố gắng và chuyển biến bớc đầu, đã gắn đợc mục tiêu chiến lợc vào nội dung quy hoạch, xác định đợc tiềm năng, định hớng phát triển cho từng vùng, từng địa phơng. Tài liệu quy hoạch đã bớc đầu giúp cho các cấp lãnh đạo ở trung ơng và địa phơng xác định mục tiêu, nhiệm vụ và tăng cờng sự chỉ đạo phát triển KT-XH ở từng địa phơng cũng nh cả nớc. Công tác phân vùng quy hoạch đã có sự đổi mới và phát triển từ thấp đến cao. Lúc đầu, chúng ta chia cả nớc thành bốn vùng và sau đó đã đợc thay đổi và chia cả nớc thành bẩy vùng. Sự đổi mới trong công tác quy hoạch là một trong những điểm đổi mới trong công tác làm kế hoạch ở nớc ta. Từ đó góp phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế của đất nớc, cũng nh sự phát triển kinh tế của chính vùng đó thông qua thu hút vốn đầu t nớc ngoài. 2.1.3. Về công tác kế hoạch phát triển. Kế hoạch phát triển là sự cụ thể hoá của chiến lợc và quy hoạch phát triển, là một công cụ định hớng đợc thể hiện bằng hệ thôngs các chỉ tiêu mục tiêu, các chỉ biện pháp và các giải pháp chính sách cơ bản áp dụng trong một khoảng thời gian nhất định. 2.1.3.1. Chuyển dần trọng tâm sang KHH định hớng phát triển năm năm. Trên cơ sở chiến lợc phát triển KT-XH và quy hoạch phát triển, các kế hoạch năm:1991-1995 và 1996-2000 đã đợc xây dựng vơí những thay đổi lớn về nội dung nh: tăng cờng KHH vĩ mô; Từng bớc xoá bỏ KHH mệnh lệnh và giảm đến mức tối thiểu các chỉ tiêu pháp lệnh, chuyển sang KHH định hớng, chú ý hơn đến các chỉ tiêu trên các lĩnh vực xã hội, khoa học và công nghệ; Đã có nhiều cố gắng xây dựng và điều hành đảm bảo các cân đối lớn trong KHH giá trị; Xây dựng và thực hiện các chơng trình dự án quốc gia; Chú trong xây dựng cơ sở hạ tầng KT-XH; Mở rộng quan hệ đối ngoại và hợp tác quốc tế. Phơng pháp xây dựng và quản lý kế hoạch năm năm bớc đầu có sự đổi mới trong lĩnh vực ngân sách, chuyển từ phơng pháp truyền thống hay phơng pháp xây dựng và quản lý kế hoạch năm năm thời kỳ cố định sang phơng pháp đổi mới hay phơng pháp xây dựng và quản lý kế hoạch năm năm theo mô hình cuốn chiếu. Cụ thể: Chuyển từ việc thời kỳ của năm năm là cố định sang thời gian của kỳ kế hoạch là năm năm nhng thời kỳ kế hoạch có sự thay đổi tức là luân chuyển theo kiểu cuốn chiếu. Chuyển từ việc các chỉ tiêu đựơc xây dựng là các chỉ tiêu đợc tính bình quân cho một năm của cả kỳ kế hoạch hoặc là tính cụ thể đích đạt đợc cho năm cuối cùng sang xây dựng chỉ tiêu cụ thể cho năm đầu tiên, sau đó dự tính chỉ tiêu cho năm tiếp theo và dự báo cáo chỉ tiêu cơ bản cho ba năm còn lại; Sau một năm, trên cơ sở kết quả thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch của năm đó kết hợp với những tình hình cụ thể của thị trờng mà chúng ta dự kiến đợc; Từ đó các nhà kế hoạch sẽ xây dựng kế hoạch cụ thể cho năm thứ hai và năm thứ hai sẽ là năm đầu của thời kỳ mới và xây dựng chỉ tiêu cho năm th ba tức là năm thứ hai của thời kỳ mới và dự báo các chỉ tiêu cơ bản cho năm cuối mới. 2.1.3.2. Về kế hoạch hàng năm. Kế hoạch hàng năm cũng đã chú trọng đến những cân đối lớn, đặc biệt là cân đối tài chính- tiền tệ, cân đối cán cân thanh toán quốc tế, cân đối vốn đầu t toàn xã hội. Chính sách tài khoá, tiền tệ và chinh sách tỷ giá đã đợc nghiên cứu hoạch định và đợc sử dụng tơng đối hợp lý trở thành nhân tố quan trọng đối với việc duy trì ổn định kinh tế vĩ mô. Thực tế nói trên đã chứng tỏ ý tởng chuyển dần việc điều hành kế hoạch từ can thiệp vi mô sang chú trọng các vấn đề vĩ mô, các cân đối lớn hơn ngày càng thể hiện rõ và phát huy hiệu lực thực tế. Về trình tự của việc xây dựng kế hoạch một năm cũng đã có sự đổi mới. Nếu trớc kia là quy trình ba xuống hai lên thì hiện nay quy trình này đợc cải tiến nh sau: Từ tháng 4 tới tháng 6: hình thành khung định hớng. Tháng 7: tổ chức hội nghị hớng dẫn làm kế hoạch trên cơ sở khung định hớng xây dựng kế hoạch. Tháng 8 tới tháng 9: các bộ ngành địa phơng xây dựng kế hoạch và Bộ KH & ĐT tiến hành tổng hợp bản kế hoạch KTQD. Tháng 10 tới tháng 11: bản kế hoạch tổng hợp KTQD đợc trình, duyệt qua chính phủ, ban chấp hành trung ơng Đảng và Quốc hội duyệt. Tháng 12: hoàn chỉnh và đa kế hoạch xuống các cấp thực hiện. 2.1.3.2: Đổi mới hệ thống chỉ tiêu kế hoạch. Hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh đã đợc rút gọn đáng kể chỉ còn chỉ tiêu thu, chi ngân sách nhà nớc, phân bổ vốn đầu t xây dựng cơ bản thuộc về nguồn vốn ngân sách nhà nớc. Xoá bỏ việc giao chỉ tiêu pháp lệnh về sản xuất và chỉ duy từ một số chỉ tiêu về lu thông vật t, hàng hoá quan trọng nhằm ổn định cung cầu. Phần lớn các chỉ tiêu kế hoạch hiện nay là chỉ tiêu giá trị, các chỉ tiêu kế hoạch hiện vật nói chung đã đợc giảm bớt đáng kể đồng thời duy trì một số cân đối hiện vật thiết yếu. Hệ thống cân đối hiện vật thiết yếu nh xăng dầu, lơng thực đã tỏ ra là cần thiết cho ổn định kinh tế xã hội, các bảng cân đối giá trị ngày càng đợc mở rộng và nâng cao. Ngoài xu hứơng "giá trị hoá ", trọng tâm của các chỉ tiêu kế hoạch đang chuyển dần sang điều tiết kinh tế vĩ mô và các chỉ tiêu xã hội . 2.1.3.3. Đổi mới quy trình lập kế hoạch: Trong thời gian qua, quy trình lập kế hoạch đã có nhiều thay đổi căn bản. Hình thức giao số kiểm tra đã đợc thay thế bằng việc cung cấp thông tin cần thiết nhằm hớng các ngành, địa phơng và đơn vị cơ sở xây dựng, tổng hợp kế hoạch theo hớng mục tiêu chung của nhà nớc. Bên cạnh việc cung cấp những thông tin hớng dẫn, Bộ kế hoạch và đầu t còn cử các đoàn đến các địa phơng để hỗ trợ, giúp đỡ và giải quyết các vớng mắc mà các địa phơng gặp phải trong khi xây dựng kế hoạch. Quy trình lập kế hoạch mới đã hạn chế sự áp đặt hành chính chủ quan của cấp trên với cấp dới, phát huy đợc tính chủ động sáng tạo của các ngành, các cấp chính quyền địa phơng cũng nh doanh nghiệp trong việc lập và thực hiện kế hoạch . Trong khi xây dựng và tổng hợp kế hoạch đã chú ý nhiều hơn đến các kế hoạch KH- CN, GD-ĐT, văn hoá- thông tin, y tế, xã hội, thể dục thể thao, xoá đói giảm nghèo… mà trớc đây thờng bị xem nhẹ và cha gắn với các kế hoạch phát triển kinh tế. Công tác kế hoạch hoá ở các lĩnh vực này sau một thời gian dài xuống cấp, trì trệ thì nay đã có nhiều thay đổi, đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế. Công tác dự báo, thông tin đã bớc đầu đợc tăng cờng, phơng pháp tính toán kế hoạch đợc sửa đổi phù hợp dần với thông lệ quốc tế. 2.1.3.4. Đổi mới phơng thức điều hành kế hoạch: Đổi mới công tác điều hành kế hoạch trong thời gian qua không chỉ đợc thể hiện ở tính kịp thời, mà còn đợc thể hiện rõ nét ở việc sử dụng các công cụ quản lý kinh tế vĩ mô gián tiếp nh lãi suất, tỉ giá, thuế suất, định hớng đầu t của nhà nớc … Do đó, một mặt sự có thể thiệp trực tiếp của các cơ quan nhà nớc vào công việc kinh doanh của các cơ sở kinh tế đã giảm bớt; mặt khác các cơ sở kinh tế đã có nhiều cố gắng trong việc phát huy khả năng tự chủ, xác định những lợi thế cạnh tranh phù hợp với điều kiện thay đổi của thị trờng . Quá trình điều hành kế hoạch hoá (KHH) cũng đã chú ý nhiều hơn đến việc dự báo ngắn hạn, điều chỉnh kịp thời các mục tiêu cũng nh các biện pháp kinh tế, sử dụng các công cụ quản lý kinh tế vĩ mô cũng nh sử dụng các cơ chế, chính sách và lực lợng vật chất để đảm bảo các cân đối lớn trong nền kinh tế, định hớng và thúc đẩy thực hiện kế hoạch. Nếu trớc đây kế hoạch chủ yếu tập trung vào kinh tế quốc doanh với kế hoạch hoá trực tiếp là chính, thì nay đã bớc đầu mở rộng kế hoạch định hớng phát triển toàn bộ nền kinh tế và xã hội, chủ yếu thông qua các KHH gián tiếp. Công tác điều hành kế hoạch đã có những chuyển biến rõ rệt từng bớc đáp ứng yêu cầu đặt ra, các công cụ pháp luật và chính sách kinh tế đợc phối hợp để tạo ra hành lang cho các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế chủ động hoạt động và hoạt động một cách có trật tự, đúng pháp luật góp phần ổn định kinh tế vĩ mô. Việc điều hành của chính phủ trong qúa trình thực hiện mục tiêu kế hoạch hàng năm đã có hiệu quả và tác dụng thiết thực, kịp thời xử lý những diễn biến bất thờng ở trong nớc và quốc tế, góp phần quan trọng cho sự ổn định kinh tế đất nớc . 2.2. Những vấn đề còn tồn tại trong quá trình đổi mới công tác kế hoạch hoá ở Việt Nam: Mặc dù việc đổi mới KHH trong thời gian qua có tiến bộ đáng kể nhng do nhiều lý do, kết quả của đổi mới KHH còn hạn chế, thậm chí cả ở trung ơng và địa phơng xu hớng giữ lại hoặc trở lại KHH kiểu cũ vẫn còn khá mạnh, ngay trong một bộ phận của nhà nớc và một phần d luận của công chúng không khí bao cấp còn nặng. Những hạn chế chủ yếu là: 2.2.1. Về những cơ sở lý luận và phơng pháp luận cho việc đổi mới công tác KHH: Trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế, chúng ta cha xây dựng đợc một cơ sở lý luận và phơng pháp luận về KHH phù hợp với thực tế đổi mới của đất nớc, do vậy không khỏi lúng túng khi thiết kế nội dung kế hoạch cũng nh phơng thức điều hành kế hoạch . Vai trò của nhà nớc với t cách là ngời điều tiết vĩ mô nền kinh tế nhiều khi bị nhầm lẫn với vai trò nhà nớc là chủ đầu t đã dẫn tới kết quả đó là nội dung kế hoạch còn nặng về phân bổ đầu t nhà nớc mà cha coi trọng đúng mức việc vận dụng chính sách để huy động các nguồn lực từ các thành phần kinh tế khác cũng nh nguồn lực từ nớc ngoài. Vì thế, KHH cha bao quát, cha phát huy hiệu lực đầy đủ đvới tổng thể nền kinh tế . Công tác kế hoạch chỉ đợc quan tâm đến nhiều ở cấp trung ơng, trong khi bộ máy kế hoạch không đủ khả năng có đợc hệ thống thông tin giám sát ở mọi cấp từ cơ sở, do vậy việc thực hiện nhiều khi diễn ra sai lệch với ý đồ của kế hoạch . Mối quan hệ giữa bộ KH&ĐT với các bộ khác cha đợc tăng cờng và đổi mới kịp thời để đáp ứng yêu cầu đổi mới chung của nền kinh tế . 2.2.2. Về nội dung phơng pháp KHH: Việc xây dựng chiến lợc phát triển và kế hoạch 5 năm thờng đợc thực hiện nhằm phục vụ mỗi kỳ đại hội Đảng; Sau đó việc thực hiện triển khai các mục tiêu chiến lợc và kế hoạch 5 năm thờng bị phân cấp, phân tán và chia cắt theo từng ngành, địa phơng, cha có khâu nối đồng bộ chung. Các cấp các ngành quan tâm nhiều nhất đến chỉ tiêu vốn, các chỉ tiêu khác thờng bị coi nhẹ. Mục tiêu kế hoạch vừa nhiều vừa cao hơn khả năng đảm đơng cả về năng lực thực hiện lẫn lực lợng vật chất. Nguồn lực hạn chế của nhà nớc bị dàn mỏng ra, quá nhiều mục tiêu mang nặng dấu ấn bao cấp và vì vậy đợc sử dụng kém hiệu quả. Nhiều nội dung của kế hoạch, đặc biệt là kế hoạch phát triển theo vùng , lãnh thổ còn cha tính đến đầy đủ các yếu tố hội nhập, quốc tế hoá, cũng nh cha phân tích kỹ lỡng đến thị trờng tiêu thụ trong nớc, ngòai nớc và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp. Phần nghiên cứu và vận dụng cơ chế chính sách còn cha thật tơng xứng, cha cụ thể hoá đợc chiến lợc, cha bao quát đợc các thành phần kinh tế, cha chú ý đúng mức tới đặc thù của các vùng, địa phơng. Nhiều vấn đề trong chính sách vĩ mô còn cha đợc xác định rõ và nhất quán, các chính sách đòn bẩy còn nhiều lúng túng. Cách thức thực hiện chính sách vẫn mang nặng tính can thiệp hành chính, áp đặt mà cha chú trọng đến cơ chế thị trờng để thiết kế và thực hiện chính sách. Và một hạn chế lớn nữa đó là sự tham gia quá ít của cộng đồng vào công tác lập kế hoạch. Do đó cha phát huy đợc hết những khả năng vốn có trong dân chúng. 2.2.3. Về phối hợp và điều hoà kế hoạch: Hệ thống kế hoạch theo ngành, theo địa phơng và vùng lãnh thổ vẫn cha liên kết và phối hợp chặt chẽ với nhau đợc trở thành hệ thống kế hoạch tổng thể kinh tế quốc dân. Sự phân cấp giữa trung ơng và địa phơng cũng nh phân công giữa các ngành với nhau là cha rõ ràng dẫn đến hậu quả khi gặp phải diễn biến bất thờng thì hầu hết là đều đa lên chính phủ, vì vậy chính phủ luôn phải xử lý công việc trong thế bị động do đó là không có lợi cho nền kinh tế nói chung. Sự can thiệp trực tiếp thờng xuyên của các cơ quan nhà nớc nhiều khi lại làm giảm tính ổn định của các chính sách và gây khó khăn cho các nhà kinh doanh. Việc xây dựng quy hoạch ở nhiều địa phơng đạt chất lợng cha cao, tính thực tế thể hiện cha rõ nét. Sự phối hợp giữa trung ơng và địa phơng trong công tác quy hoạch còn kém đã làm cho nhiều địa phơng làm lại quy hoạch mặt bằng của mình. Nhiều chơng trình quốc gia cha đợc xây dựng chu đáo, không xác định rõ mục tiêu, đối tợng cụ thể đợc hởng lợi; Cha có cơ chế phù hợp cho việc tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát và đánh giá cụ thể. Số lợng chơng trình quá nhiều, chồng chéo cả về đối tợng hởng lợi và địa bàn thực hiện. Trong khi tính “lồng ghép” của các chơng trình cha cao thì xu hớng “chia đều” đã làm giảm đáng kể hiệu quả của các chơng trình. 2.2.4. Về cơ chế điều hành xã hội : Mọi việc trong công tác xây dựng, tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát và đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch hầu nh nằm trong tay chính phủ và một số cơ quan tổng hợp, vì vậy khả năng điều hành cần đợc tăng cờng thích đáng, nếu không thì tính khả thi một số mục tiêu sẽ bị hạn chế. Cơ chế điều hành cân đối một số sản phẩm chủ yếu, mà thực chất là cân đối hiện vật đã tỏ ra có giới hạn rõ rệt nhất là trong xuất khẩu và kinh tế đối ngoại. Tình hình thế giới và khu vực đang và sẽ diễn biến phức tạp hơn nhiều trong thời gian tới đòi hỏi công tác KHH, đặc biệt là khâu điều hành kế hoạch phải linh hoạt hơn, đa ra các quyết sách kịp thời, phù hợp trên cơ sở những luận cứ khoa học và thực tiễn xác đáng. 2.2.5. Về thông tin và dự báo: Thực tế đã chứng minh đó là có đợc thông tin kịp thời và chính xác là một yếu tố quyết định lớn đến thành công. Tuy vậy nhng hệ thông thông tin hiện nay của ta còn rất nhiều hạn chế . Đó là:Thứ nhất, các thông tin là không thống nhất. Do mỗi nơi đều có một cơ quan thu thập, xử lý và cung cấp thông tin riêng do đó dẫn tới việc tổng hợp thông tin này gặp nhiều khó khăn.Thứ hai, các thông tin là không đầy đủ. Vì hệ thống biểu mẫu báo cáo còn cha thay đổi kịp thời và phù hợp với cơ chế mới dẫn tới việc thiếu thông tin. Thứ ba, độ chính xác của các thông tin là cha cao. Do luồng thông tin đợc thu thập ở nhiều cấp và mỗi cấp có một cách xử lý riêng nên khi tổng hợp lại đã có sự khác nhau. Hiện nay, hệ thống thông tin đợc hình thành từ các thông tin cục bộ nên cha có sự phối hợp ăn khớp với nhau do đó cha nắm bắt đợc các diễn biến trên thị trờng trong và ngoài nớc. Do cơ sở thông tin còn quá yếu đồng thời cũng cha tìm đợc những mô hình phù hợp nên kết quả phân tích và dự báo cha cao, mức độ tin cậy thấp. Mặc dù công tác phân tích và dự báo đã và đang đợc nhiều tổ chức quan tâm, song sự phối hợp giữa các tổ chức còn cha tốt. 2.2.6. Về bộ máy tổ chức và cán bộ: Nhìn chung là trình độ cán bộ và bộ máy tổ chức vẫn cha đáp ứng đợc những đòi hỏi của công tác KHH trong tình hình mới. Các phòng kế hoạch huyện cũng nh các sở kế hoạch tỉnh ở nhiều nơi vẫn đang gặp lúng túng trong việc xác định chức năng của mình . Kiến thức về công tác kế hoạch trong nền kinh tế thị trờng của cán bộ nói chung là cha đáp ứng đợc đòi hỏi mới. Việc chuyển đổi điều hành nền kinh tế theo khiểu mệnh lệnh sang điều hành kiểu gián tiếp là một sự thay đổi rất lớn, đòi hỏi phải sử dụng nhiều phơng tiện kỹ thuật và kiến thức mới. Do vậy, lực lợng cán bộ cần đợc nâng cao hơn cả về số lợng và chất lợng, bộ máy tổ chức cần đợc sắp xếp lại để có thể tạo ra sự phối hợp hài hoà giữa các ngành các cấp. Bộ máy tổ chức trong ngành kế hoạch cha đa ra đợc một hệ thống đánh giá kết quả công việc của mỗi bộ phận cũng nh của mỗi thành viên phù hợp với cơ chế quản lý mới. Cơ chế xử phạt còn có xu hớng bình quân, trách nhiệm cha rõ ràng. 2.3. Nguyên nhân của những hạn chế trong đổi mới công tác KHH trong những năm qua ở Việt Nam: 2.3.1. Nguyên nhân: Thứ nhất, những sai lầm của cơ chế quản lý sơ cứng cũ đã kéo dài trong nhiều năm, làm đứt mối liên hệ khách quan giữa sản xuất kinh doanh với thị trờng. Bộ máy quản lý vẫn rất cồng kềnh, nhiều tầng, nấc. Đây là “miếng đất ” nảy sinh lối quản lý hành chính quan liêu tham nhũng và là gánh nặng đối với các đơn vị kinh tế cơ sở. Trong những năm vừa qua, Việt Nam đã tích cực thực hiện tinh giảm biên chế gián tiếp, đổi mới bộ máy tổ chức, thực hiện cải cách hành chính nhng kết quả cha đợc là bao. Thứ hai, Đội ngũ cán bộ lập kế hoạch có trình độ cha cao và cha nhạy bén với tình hình thực tế. Đội ngũ cán bộ đông đảo hiện nay ở các cấp , các ngành có nhiều ngời tới nay không đủ khả năng đổi mới t duy và phơng pháp công tác cho dù có đợc đào tạo lại. Họ không nhận thấy đợc sự lạc hậu của mình trong tiến trình đổi mới và xây dựng các kế hoạch mới. Còn một bộ phận khác giữ cơng vị quan trọng trong quản lý nhng do cha đợc đào tạo nên kém thích ứng với cơ chế quản lý mới. Thứ ba, một trong những công cụ quản lý nền kinh tế vĩ mô là xây dựng các kế hoạch định hớng. Nhng cho tới nay, các kế hoạch ngắn hạn , trung han và dài hạn vạch ra vẫn còn mang nặng tính hiện vật. Một số chỉ tiêu về nguồn lực , nhất là nguồn lực từ bên ngoài còn đợc xây dựng trên t duy chủ quan. Việc phân bổ vốn ngân sách và vốn tín dụng đầu t xây dựng cơ bản vẫn theo bài bản chia phần, “xin” và “cho”, ham quy mô lớn, ít chú ý đến việc lựa chọn phơng án đầu t, phơng án kỹ thuật sao cho có hiệu quả nhất. Thứ t, trong xây dựng các chiến lợc phát triển KT-XH 10 năm có nội dung bao gồm quá nhiều các chơng trình, nhiều khi các chơng trình là chồng chéo lên nhau, sự lồng ghép giữa các chơng trình còn hạn chế, đối tợng thụ hởng cha đợc xác định cụ thể đã dẫn tới việc thực hiện chiến lợc phát triển đạt hiệu quả cha cao. Thứ năm, Do nền kinh tế có xuất phát điểm thấp từ một nớc nông nghiệp lạc hậu, sản xuất nhỏ là phổ biến đã dẫn tới cơ chế điều tiết cha theo kịp tiến trình đổi mới, cùng với những năm dài áp dụng KHH tập trung cao độ, phân phối hiện vật , quan liêu bao cấp nên đã để lại một hậu quả nặng nề đó là về đội ngũ cán bộ quản lý, điều hành cũng nh đội ngũ lao động. Tóm lại, mặc dù vẫn tồn tại nhiều hạn chế xong những gì chúng ta đã đạt đợc trong đổi mới công tác KHH về cơ bản đợc đánh giá là thành công. Bởi kết quả thấy rõ sau những cải cách đó là nớc ta đã thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế và bớc đầu đạt đợc những thành công trong phát triển kinh tế trong thời gian qua. CHƠNG 3 ĐỊNH HỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI KẾ HOẠCH HOÁ TRONG NHỮNG NĂM TIẾP THEO 3.1.Định hớng đổi mới kế hoạch hoá trong những năm tiếp theo 3.1.1.Kế hoạch hoá trong cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa Trong nền kinh tế đang chuyển đổi ở Việt Nam, thị trờng vừa là căn cứ, vừa là đối tợng của kế hoạch hoá. Nhà nớc một mặt phải xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, mặt khác phải hình thành đồng bộ các yếu tố thị trờng, xây dựng và hoàn thiện các công cụ pháp luật, kế hoạch, các thiết chế tài chính, tiền tệ và những phơng tiện về vật chất và tổ chức cần thiết cho sự quản lý của mình, tạo điều kiện cho cơ chế thị trờng hoạt động hữu hiệu. Kế hoạch hoá chủ yếu mang tính định hớng và đặc biệt quan trọng trên bình diện vĩ mô. Thị trờng có vai trò trực tiếp hớng dẫn các đơn vị kinh tế lựa chọn lĩnh vực hoạt động và phơng án tổ chức kinh doanh. Kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô của nhà nớc cần xác định mục tiêu, giải thích rõ ý nghĩa của mục tiêu đó đối với sự phát triển trong tơng lai, xác định rõ mức độ và cách thức mà khu vực kinh tế nhà nớc thực hiện mục tiêu đã định, nêu lên những lợi ích và phát triển dự định đối với khu vực kinh tế t nhân và các thành phần kinh tế khác để họ hành động theo định hớng nhà nớc mong muốn. Đối với các thành phần kinh tế khác, thì kế hoạch không có tính áp đặt, mà thông qua các biện pháp chính sách thống nhất với lợi ích để khuyến khích họ tự nguyện hành động theo hớng mục tiêu kế hoạch đã đặt ra. Nh vậy, muốn các doanh nghiệp ứng xử theo kế hoạch của nhà nớc thì kế hoạch hoá và chính sách phải phù hợp với lợi ích của doanh nghiệp. Nh vậy, đổi mới kế hoạch hoá phải ăn khớp với đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nói chung, phù hợp với quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trờng theo định hớng xã hội chủ nghĩa. Việc sử dụng công cụ kế hoạch hoá phải phù hợp với cơ chế thị trờng, phải đảm bảo phân định giữa quản lý nhà nớc và quản lý kinh doanh ở các doanh nghiệp nhà nớc. Công tác điều hành kế hoạch phải đợc thực hiện thông qua những công cụ quản lý kinh tế vĩ mô là chủ yếu, phối hợp sử dụng những biện pháp gián tiếp và biên pháp trực tiếp. 3.1.2. Kế hoạch hoá trong điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế Nhân tố quyết định thành công và hiệu quả của công nghiệp hoá, hiện đại hoá là khoa học và công nghệ. Tốc độ phát triển công nghệ càng cao, số lợng sản phẩm mới, công nghệ mới ngày càng nhiều đã đặt ra một nhiệm vụ quan trọng cho công tác kế hoạch hoá la phải xây dựng những chính sách chuyển giao công nghệ thuận lợi, tìm ra đợc hớng “đi tắt, đón đầu” giúp cho nền kinh tế có tốc độ tăng trởng cao, ổn định, rút ngắn khoảng cách với các nớc tiên tiến. Kế hoạch hoá phải đóng vai trò quan trọng trong việc điều tiết nền kinh tế phù hợp với xu thế hội nhập, toàn cầu hoá đang ngày càng gia tăng đối với nền kinh tế Việt Nam. Trong thời gian trớc mắt, việc hình thành những chính sách kinh tế để ứng phó với cuộc khủng hoảng trong khu vực là một nhiệm vụ cấp bách của công tác kế hoạch hoá. Cân bằng cán cân thanh toán là một trong bốn mục tiêu quan trọng nhất của chinh sách kinh tế. Quá trình phát triển trong những năm qua đã để lại một số vấn đề cần phải giải quyết ngay nh: các khoản nợ nớc ngoài, tỷ lệ thâm hụt cán cân vãng lai tơng đối cao… Tiến trình hội nhập khu vực và quốc tế của nền kinh tế Việt Nam diễn ra trong bối cảnh khủng hoảng tài chính khu vực đã làm cho những vấn đề khó khăn của kinh tế đối ngoại ngày càng thêm phức tạp. Đó là những thách thức to lớn đối với điều tiết tổng thể nền kinh tế nói chung và đổi mới kế hoạch hoá nói riêng. Nó đòi hỏi phải nhanh chóng hình thành những chính sách khuyến khích đầu t trong nớc và nớc ngoài theo hớng phát huy nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, hỗ trợ cho quá trình hội nhập của nền kinh tế nớc ta. 3.1.3. Kế hoạch hoá phải đảm bảo mối tơng quan hợp lý giữa phát triển kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội Chiến lợc phát triển kinh tế - xã hội phải lấy việc phát huy nguồn lực con ngời làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững. Động viên toàn dân cần kiệm xây dựng đất nớc, không ngừng tăng tích luỹ cho đầu t phát triển. Tăng trởng kinh tế gắn với cải thiện đời sống nhân dân, phát triển văn hoá, giáo dục, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trờng. Công tác kế hoạch hoá phải đảm bảo sự thống nhất giữa yêu cầu phát triển kinh tế đảm bảo chính sách xã hội theo tinh thần: - Tăng trởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bớc và trong suốt quá trình phát triển. Công bằng xã hội phải thể hiện ở khâu phân bổ hợp lý t liệu sản xuất lẫn ở khâu phân phối kết quả sản xuất, ở việc tạo điều kiện cho mọi ngời đều có cơ hội phát triển và sử dụng tốt năng lực của mình. - Thực hiện nhiều hình thức phân phối, lấy phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu, đồng thời phân phối dựa trên mức đóng góp các nguồn lực khác vào kết quả kinh doanh và phân phối thông qua phúc lợi xã hội, đi đôi với chính sách điều tiết hợp lý, bảo hộ quyền lợi của ngời lao động. - Các vấn đề chính sách xã hội đều phải giải quyết theo tinh thần xã hội hoá. Nhà nớc giữ vai trò nòng cốt đồng thời động viên cho mỗi ngời dân, các doanh nghiệp, các tổ chức trong xã hội, các cá nhân và tổ chức nớc ngoài cùng tham gia giải quyết những vấn đề xã hội. Trong những năm trớc mắt, công tác kế hoạch hoá phải góp phần thiết thực giải quyết một số vấn đề xã hội cấp bách nh: - Tập trung sức tạo việc làm: Phơng hớng quan trọng nhất là nhà nớc cùng toàn dân ra sức đầu t phát triển, thực hiện tốt kế hoạch và các chơng trình kinh tế – xã hội. Khuyến khích mọi thành phần kinh tế, mọi công dân, mọi nhà đầu t mở mang ngành nghề, tạo nhiều việc làm cho ngời lao động. Mọi công dân đều đợc tự do hành nghề, thuê mớn nhân công theo pháp luật. Tiếp tục phân bố lại dân c trên địa bàn có tính chiến lợc về kinh tế , an ninh – quốc phòng. Mở rộng kinh tế đối ngoại, đẩy mạnh xuất khẩu lao động. Giảm đáng kể tỉ lệ thất nghiệp ở thành thị và thiếu việc làm ở nông thôn. - Thực hiện xóa đói, giảm nghèo: Thực hiện tốt chơng trình xoá đói giảm nghèo, nhất là đối với vùng căn cứ cách mạng, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Xây dựng và phát triển quỹ xoá đói, giảm nghèo bằng nhiều nguồn vốn trong và ngoài nớc; quản lý chặt chẽ, đầu t đúng đối tợng và có hiệu quả. Tổ chức tốt đời sống xã hội trên từng địa bàn để trong điều kiện thu thập bình quân đầu ngời còn thấp vẫn tạo đợc một cuộc sống khá hơn cho nhân dân. 3.1.4. Kết hợp kế hoạch hoá theo ngành với kế hoạch hoá theo địa phơng và vùng lãnh thổ Kế hoạch hoá định hớng phát triển kinh tế – xã hội có một nội dung rất cơ bản là sự thay đổi và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, kể cả cơ cấu ngành và cơ cấu vùng lãnh thổ. Từ kinh nghiệm phát triển, có thể rút ra một số kết luận sau đây về chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Một là, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu ngành công nghiệp nói riêng, là một quá trình tiến hoá tuần tự mang tính nội tai phải trải qua nhiều giai đoạn. Những tác động của kế hoạch hoá chỉ có thể đẩy nhanh hoặc rút ngắn quá trình chuyển dịch cơ cấu, chứ không thể bỏ qua một giai đoạn nào. Hai là, trong thời kỳ toàn cầu hoá, kế hoạch hoá chuyển dịch cơ cấu kinh tế của quốc gia chủ yếu vẫn phải căn cứ vào điều kiện, tiềm năng, kỹ năng và lợi thế hiện tại. Với cách nhìn nh trên, nhà nớc cần đặc biệt lu ý và u tiên hỗ trợ những ngành trọng điểm của nền kinh tế những ngành có tỷ trọng lớn và tốc độ phát triển cao trong GDP, trong tổng số lao động sử dụng và trong tổng kim ngạch xuất khẩu. Đồng thời cần chú trọng khuyến khích một số ngành công nghệ cao, có sức lan toả lớn và tạo động lực phát triển bền vững trong tơng lai. Nguyên tắc phát triển kinh tế đồng đều giữa các vùng là nguyên tắc chủ đạo trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội. Đây là nhiệm vụ trớc hết của nhà nớc trung ơng. Nhà nớc trung ơng thực hiện nhiệm vụ này theo hai cách. Một là, u tiên đầu t của nhà nớc cho các vùng kém phát triển. Hai là, dành chính sách u đãi ở mức cao hơn đối với khu vực kém phát triển để thu hút đầu t t nhân vào đó. Về đầu t của nhà nớc, do nguồn vốn có hạn nên kinh phí thực hiện phát triển vùng trong một giai đoạn cần tập trung vào một hoạch một số ít mục tiêu nhất định. Việc phân cấp kế hoạch giữa trung ơng và địa phơng cần đợc xác định hợp lý và rõ ràng. Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của địa phơng trớc hết do chính quyền địa phơng quyết định. Nhà nớc trung ơng chỉ tập trung thực hiện những mục tiêu có tính hệ thống, cân đối, mà các cấp chính quyền địa phơng không thể thực hiện đợc. Nguyên tắc của việc phân cấp nên là: Việc gì chính quyền cấp dới, do tính chất của công việc, không thể thực hiện đợc thì mới chuyển lên trên, thay cho nguyên tắc phân cấp hiện nay trong kế hoạch chủ yếu dựa vào tính chất công việc. Việc phân cấp luôn phải đi kèm với những biện pháp kiểm tra giám sát thích hợp; vì thế việc giao quyền hạn cho các cấp chính quyền địa phơng trong kế hoạch hoá, đặc biệt là kế hoạch sử dụng những khoản chi từ ngân sách cấp trên, luôn luôn đi kèm với sự giám sát chặt chẽ hơn, theo nguyên tắc: quyền hạn càng lớn, trách nhiệm càng cao. 3.1.5. Đổi mới toàn diện hệ thống kế hoạch kinh tế vĩ mô: Để cho kế hoạch hoá thật sự trở thành công cụ cơ bản trong việc định hớng thị trờng, bảo đảm cho nền kinh tế phát triển có hiệu quả và bền vững, thúc đẩy nhanh công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá, công tác kế hoạch hoá phải đợc tiếp tục đổi mới và hoàn thiện trên các mặt chủ yếu sau đây: Trớc hết, phải coi trọng công tác dự báo, nhất là dự báo trung hạn và ngắn hạn về kinh tế – xã hội và xu thế phát triển trong và ngoài nớc để có cơ sở vững chắc cho việc hoạch định các chiến lợc phát triển, cũng nh cho công tác điều hành tầm vĩ mô. Hai là, tiếp tục xây dựng chiến lợc 10 năm 2001-2010 và rà soát lại các quy hoạch phát triển tổng thể nền kinh tế, quy hoạch các vùng kinh tế trọng điểm đã đợc thông qua cho phù hợp với yêu cầu mới, xu thế phát triển và hội nhập kinh tế trong vùng và các nớc. Ba là, tổ chức xây dựng các chơng trình , dự án phát triển, có hiệu quả để có thể khai thác, sử dung có hiệu quả nguồn tài nguyên, nhân lực và các lợi thế so sánh của nớc ta, sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn bên ngoài theo định hớng của kế hoạch. Bốn là, để thực hiện chức năng chủ yếu của kế hoạch hoá là thúc đẩy sự hình thành cơ cấu hợp lý, đảm bảo cho nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững, phải cải tiến nội dung xây dựng kế hoạch hàng năm một cách thiết thực, giảm những khâu trung gian, giữ vững cân đối chủ yếu, nhất là cân đối giá trị, đồng thời từng bớc chuyển dần trọng tâm sang kế hoạch hoá phát triển kinh tế – xã hội 5 năm với nội dung bao quát toàn bộ hoạt động của các thành phần kinh tế, xác định hệ thống các mục tiêu kinh tế vĩ mô, các yêu cầu tăng trởng kinh tế, các cơ cấu và mối quan hệ hợp lý của nền kinh tế. Năm là, góp phần vào việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm tạo ra môi trờng kinh tế vĩ mô ổn định và kích thích tất cả các thành phần kinh tế phát triển với mục tiêu dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng văn minh. 3.2. Một số giải pháp đổi mới kế hoạch hoá kinh tế trong thời gian tiếp theo: 3.2.1.Đổi mới công tác xây dựng chiến lợc phát triển kinh tế xã hội: Kế hoạch hoá là một quá trình liên tục, bao gồm chiến lợc phát triển kinh tế – xã hội, quy hoạch phát triển, kế hoạch định hớng phát triển kinh tế – xã hội 5 năm, kế hoạch hàng năm và chỉ đạo, điều hành thực hiện. Chiến lợc phát triển kinh tế – xã hội có nhiệm vụ hoạch định đờng hớng phát triển cơ bản của đất nớc trong khoảng thời gian 10 năm, là cam kết chính trị của Đảng và nhà nớc đợc công bố trớc toàn dân và cộng đồng quốc tế về đờng lối và cách thức lãnh đạo phát triển đất nớc. Nội dung của chiến lợc bao gồm việc xác định mục tiêu định tính trên các lĩnh vực nh: tăng trởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo vùng, xu hớng biến đổi chất lợng cuộc sống của dân c trên các vùng của đất nớc, xu hớng biến đổi khả năng cạnh tranh của quốc gia trong khu vực và trên thế giới, trình độ phát triển khoa học và công nghệ của đất nớc, khả năng bảo đảm an ninh quốc gia; Xác định các quan điểm và nguyên tắc cơ bản nhằm thúc đẩy đất nớc phát triển theo các định hớng nói trên. Chiến lợc có thời hạn 10 năm, nhng theo chu kỳ 5 năm sẽ đợc xem xét, sửa đổi và điều chỉnh cho phù hợp. Nh vậy, mỗi kỳ Đại hội Đảng sẽ là một lần thông qua chiến lợc mới hoặc điều chỉnh chiến lợc. Cụ thể là, xây dựng chiến lợc phát triển kinh tế – xã hội cho thời kỳ 2001 – 2010; Đến năm 2003 bắt đầu xem xét đánh giá lại, và xây dựng chiến lợc phát triển kinh tế – xã hội cho thời kỳ 2006 – 2015. Cứ tiếp tục nh vậy vào khoảng năm 2008 sẽ xem xét, đánh giá lại tình hình và xây dựng chiến lợc phát triển kinh tế – xã hội cho thời kỳ tiếp theo. 3.2.2. Nâng cao chất lợng công tác quy hoạch phát triển: Quy hoạch là một đề án khoa học luận chứng các phơng án phát triển theo ngành và lãnh thổ các vùng, các tỉnh và thành phố, các quận và huyện nhằm đạt các mục tiêu chiến lợc đã đề ra, cụ thể hoá chiến lợc với những dự tính cần thiết cho sự phát triển của ngành, của địa phơng đó. Công việc xây dựng quy hoạch lãnh thổ do chính quyền địa phơng chủ trì, phối hợp các ngành hữu quan và các địa phơng lân cận. Trên cơ sở phân tích những điều kiện thuận lợi, khó khăn và dự báo xu thế phát triển của địa phơng trong tổng thể kinh tế, quy hoạch vùng phải đa ra đợc nhũng quyết sách phù hợp. Trên cơ sở đó có thể sắp xếp theo không gian sự phát triển kinh tế – xã hội của địa phơng. Quy hoạch không gian chỉ quy định khu vực cho mục tiêu chung (ví dụ khu công nghiệp), chứ không ép buộc các nhà đầu t phải đầu t vào một ngành cụ thể nào đó. Công cụ để đạt đợc những mục tiêu trong quy hoạch lãnh thổ chủ yếu là nguồn tài chính của địa phơng đó và các chính sách kinh tế trong phạm vi thẩm quyền của chính quyền địa phơng; chính quyền cấp trên chỉ nên hỗ trợ phát triển những lĩnh vực có tác dụng lan toả ra phạm vi lớn hơn. Để đảm bảo nguyên tắc này, cần phải xác định rõ ràng nhiệm vụ của từng cấp làm cơ sở cho việc phân bổ các nguồn thu ngân sách. Quy hoạch ngành đợc xây dựng dới sự chủ trì của bộ quản lý ngành phối hợp với những bộ có liên quan nh Bộ Kế hoạch và Đầu t, Bộ Tài chính, … cùng các cấp chính quyền địa phơng. Quy hoạch ngành có thể đợc cụ thể hoá theo không gian và thời gian. Với quan điểm là nhà nớc chỉ hỗ trợ gián tiếp chứ không can thiệp trực tiếp vào công việc kinh doanh của các doanh nghiệp, chỉ nên xây dựng quy hoạch tổng thể cho những ngành co tính chất hệ thống trong toàn quốc, nh năng lợng, viễn thông, giao thông vận tải. Quy hoạch phát triển những ngành khác chủ yếu mang tính định hớng, dự báo. Quy hoạch ngành đợc thực hiện thông qua những chơng trình trọng điểm quốc gia và bằng nguồn lực của cả trung ơng và địa phơng. Số liệu rút ra từ quy hoạch sẽ là những cơ sở quan trọng cho các doanh nghiệp trong việc xây dựng kế hoạch kinh doanh của họ. 3.2.3. Chú trọng kế hoạch hoá định hớng phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 3.2.3.1. Nghị quyết Đại hội VIII đã đề ra yêu cầu: “Chuyển dần sang kế hoạch 5 năm là chính, có phân ra từng năm”. Nh vậy, kế hoạch 5 năm sẽ là trọng tâm trong hệ thống kế hoạch, là công cụ quản lý vĩ mô quá trình phát triển trong thời hạn 5 năm. Kế hoạch 5 năm xác định một số chỉ tiêu cơ bản định hớng cho sự phát triển của đất nớc, xác định những lĩnh vực mà kinh tế nhà nớc sẽ u tiên tập trung phát triển, xác định nguyên tắc hoạch định và xây dựng chính sách cụ thể để hớng toàn bộ nền kinh tế phát triển theo định hớng đã chọn. Các chỉ tiêu của kế hoạch 5 năm chủ yếu mang tính định hớng phát triển. Kế hoạch 5 năm ở cấp trung ơng nên đặc biệt chú ý những chỉ tiêu nh: (1) mức thu nhập bình quân dầu ngời tại năm cuối của kỳ kế hoạch, (2) tỷ trọng công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ trong GDP, (3) tỷ trọng lực lợng lao động xã hội làm việc trong các lĩnh vực nói trên… 3.2.3.2. Để đảm bảo tính liên tục và hệ thống của kế hoạch hoá, có thể thử nghiệm phơng pháp “cuốn chiếu” trong việc xây dựng kế hoạch 5 năm. Phơng pháp xây dựng kế hoạch theo kiểu “cuốn chiếu” này đã đợc áp dụng thành công ở một số nớc nh Pháp, xây dựng kế hoạch hoá phát triển ở Nhật, xây dựng kế hoạch tài chinh ở Cộng hoà Liên bang Đức. Theo phơng pháp này, kế hoạch phát triển 5 năm sẽ xác định những mục tiêu tổng thể, bao gồm kế hoạch chính thức của năm hiện hành, kế hoạch dự tính cho năm tiếp đó và dự báo kế hoạch cho 3 năm còn lại. Mức độ chi tiết, cụ thể và chính xác của nội dung kế hoạch của các năm sau phụ thuộc vào số lợng và độ tin cậy của thông tin có đợc. Phơng pháp này giúp khắc phục đợc tính nhất thời, sự không phù hợp giữa mục tiêu kế hoạch đề ra với điều kiện thay đổi thờng xuyên của môi trờng. 3.2.3.3. Nội dung nghiên cứu, xây dựng và tổng hợp kế hoạch 5 năm ở cấp trung ơng bao gồm các công việc sau: -Tổng kết, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch 5 năm trớc - Dự báo khả năng phát triển trong thời kỳ kế hoạch 5 năm sau, bao gồm cả tình hình kinh tế, chính trị các nớc trên thế giới và trong khu vực. - Xác định và tính toán các cân đối vĩ mô, có phân chia ra từng năm. - Xác định các mục tiêu và chỉ tiêu phát triển, có phân chia ra từng năm. - Xây dựng định hớng phát triển các ngành, các lĩnh vực. - Xây dựng hệ thống các chơng trình mục tiêu phát triển. - Xây dựng danh mục các dự án đầu t, các công trình xây dựng cơ bản bằng tất cả các nguồn vốn. - Xây dựng định hớng các cơ chế, chính sách, các biện pháp bảo đảm thực hiện các mục tiêu kế hoạch. 3.2.4. Hoàn thiện kế hoạch hoá hàng năm: 3.2.4.1. Kế hoạch hàng năm không chỉ tập trung vào các mục tiêu tăng trởng, mà còn nhằm vào mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô nhằm bảo đảm sự phát triển bền vững của nền kinh tế. Theo tinh thần đó thì hệ thống kế hoạch hàng năm bao gồm: - Kế hoạch định hớng phát triển kinh tế - xã hội hàng năm nhằm ổn định kinh tế vĩ mô và thực hiện mục tiêu phát triển của năm đó. Một nội dung quan trọng của kế hoạch hàng năm là cân đối vốn đầu t toàn xã hội. Cân đối này gồm 3 phần: một là, kế hoạch đầu t của nhà nớc trung ơng; hai là, kế hoạch đầu t của các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ơng; Ba là, các biện pháp chính sách huy động thêm vốn của khu vực kinh tế dân doanh và vốn đầu t nớc ngoài. - Kế hoạch đầu t của nhà nớc: Quốc hội quyết định tổng mức đầu t cụ thể hàng năm, gồm cả tín dụng nhà nớc và công trình trọng điểm khởi công trong năm kế hoạch; Thủ tớng Chính phủ quyết định dự án đầu t và phân bổ đầu t cụ thể hàng năm. Nh vậy, về cơ bản đầu t nhà nớc trung ơng sẽ tập trung chủ yếu vào các dự án quy mô lớn phát huy tác dụng trên phạm vi liên tỉnh. - Kế hoạch ngân sách nhà nớc bao gồm kế hoạch thu chi ngân sách và cân đối ngân sách hàng năm. Nên nghiên cứu thực hiện phơng pháp “cuốn chiếu” cho việc xây dựng kế hoạch ngân sách trung hạn. Do thu và chi ngân sách thờng không ăn khớp nhau về thời điểm, nên Chính phủ và chính quyền các cấp đợc phép vay tín dung để có thể bảo đảm kế hoạch chi tiêu. - Kế hoạch cung ứng tiền tệ là một kế hoạch linh hoạt, và kế hoạch từng quý sẽ là công cụ chủ yếu điều hành cung ứng tiền tệ của nền kinh tế, bảo đảm mục tiêu kiềm chế lạm phát ổn định ở mức độ chấp nhận đợc. Kế hoạch xuất – nhập khẩu và quản lý cán cân thanh toán quốc tế, quản lý vay và trả nợ nớc ngoài; hạn chế số lợng các mặt hàng quản bằng hạn ngạch ở mức tối thiểu cần thiết. 3.2.4.2. Kế hoạch hàng năm ở cấp trung ơng bao gồm một số chỉ tiêu dự báo và một số chỉ tiêu pháp lệnh. Sự khác biệt của các chỉ tiêu kế hoạch ở cấp trung ơng, ở cấp tỉnh và huyện, đặc biệt là những chỉ tiêu về xã hội, phụ thuộc chủ yếu vào việc phân cấp nhiệm vụ giữa những cấp này. Trớc tình hình những vấn đề xã hội và công nghệ ngày càng trở nên bức xúc, trong thời gian tới cần sớm nghiên cứu để đa vào kế hoạch những chỉ tiêu hữu dụng cho việc giải quyết những vấn đề này. Trong môi trờng thờng xuyên biến động, mục tiêu kế hoạch là những đích cần phấn đấu để vơn tới. Vì vậy, kế hoạch hoá chủ yếu mang tính định hớng, không nên xác định các chỉ tiêu phát triển kinh tế – xã hội một cách cứng nhắc, mà nên là một khoảng ớc định. 3.2.4.3. Đối với kế hoạch hàng năm thì công tác điều hành kế hoạch có một vị trí rất quan trọng. Mục tiêu của việc điều hành là kịp thời can thiệp gián tiếp hoặc trực tiếp vào nền kinh tế khi có xuất hiện biến động môi trờng làm ảnh hởng đến việc thực hiện các mục tiêu kế hoạch; song sự can thiệp này cung không nên diễn ra thờng xuyên làm ảnh hởng đến tính ổn định của hệ thống chính sách kinh tế. Điều hành kế hoạch luôn phải tính đến sự ảnh hởng tổng thể vào nền kinh tế và những hệ quả mà nó đa lại. Chính vì vậy, để nâng cao chất lợng công tác điều hành kế hoạch, trớc hết cần củng cố hệ thống thông tin và xây dựng những mô hình phân tích và dự báo kinh tế có độ tin cậy cao. 3.2.5. Tăng cờng công tác nghiên cứu và xây dựng chính sách Vấn đề rất quan trọng trong quá trình đổi mới công tác kế hoạch hoálà phải nâng cao chất lợng hoạch định chính sách, trong đó cần chú ý đến các công cụ chính sách gián tiếp. Về vấn đề này, những công việc cần thực hiện ngay là: - Nâng cao năng lực hoạch định chính sách của các cơ quan nhà nớc, đặc biệt là các cơ qua nh Bộ Kế hoạch và Đầu t, Bộ Tài chính, ngân hàng nhà nớc Việt Nam, Văn phòng chính phủ, Văn phòng Quốc hội. - Tăng cờng đối thoại giữa doanh nghiệp và các quan chức Chính phủ bằng cách thành lập diễn đàn đối thoại chính sách sinh hoạt định kỳ để thảo luận và trao đổi về chính sách, kế hoạch và điều hành thực hiện chính sách, kế hoạch. - Mở diễn đàn trao đổi chính sách trên các phơng tiện thông tin đại chúng, đặc biệt là trên các kênh truyền hình trung ơng và địa phơng, để thu hút sự tham gia rộng rãi của các tầng lớp dân c vào việc trao đổi và hoạch định chính sách của Chính phủ. Để đảm bảo sự ăn khớp, đồng bộ và linh hoạt của hệ thống chính sách, cần tăng cờng phối hợp giữa các bộ, giữa trung ơng và các địa phơng trong việc xây dựng và thực hiện chính sách. 3.2.6. Xây dựng và phát triển công tác dự báo và phân tích kinh tế Cho đến nay, công tác dự báo và phân tích kinh tế vẫn là khâu yếu nhất trong toàn bộ quá trình kế hoạch hoá. Vì vậy, để nâng cao độ tin cậy của kế hoạch hoá nh công cụ định hớng phát triển, cần phải nâng cao chất lợng công tác dự báo và phân tích kinh tế. Để có đợc một mô hình dự báo hữu dụng trong thời gian tới, việc lựa chọn mô hình dự báo ngắn hạn nên chú ý các yêu cầu sau: - Phải đa ra đợc những số liệu dự báo, phân tích theo quý. - Phải bao gồm những thông tin kịp thời phản ánh đợc những nét chính tình hình kinh tế trong thời gian ngắn hạn, mức độ yêu cầu về chất lợng thông tin không cần quá nghiêm ngặt. - Không cần phân ngành ở mức độ quá chi tiết nh phân ngành của hệ thống kê, nhng đồng thời việc nhóm gộp vẫn phải đảm bảo thể hiện những nét quan trọng nhất của cơ cấu kinh tế. - Không cần quá nhiều phơng trình, nhng phải phản ánh đợc những mối quan hệ chính trong nền kinh tế. - Phối hợp đợc với phơng pháp dự báo khác nhau để thờng xuyên phối hợp và cải tiến mô hình. 3.2.7. Đổi mới hệ thống thu thập, xử lý và sử dụng thông tin Chất lợng và hiệu lực của kế hoạch cũng nh hệ thống chính sách kinh tế phụ thuộc rất nhiều vào chất lợng, tính kịp thời và đầy đủ của thông tin. Kinh nghiệm từ cuộc khủng hoảng hiện nay ở các nớc trong khu vực cho thấy hệ thống thông tin và đánh giá kinh tế yếu kém và không chính xác là một trong các nguyên nhân quan trọng làm cho chính phủ các nớc không đa ra đợc các đối sách kịp thời nhằm ngăn chặn khủng hoảng. Vì vậy công việc cấp bách cần phải làm là đổi mới hệ thống báo cáo và thu thập thông tin, nâng cao chất lợng thông tin. Một nội dung chính của công việc này là: - Đánh giá lại hệ thống báo cáo và thông tin hiện hành, rút ra đợc những điểm yếu và điểm mạnh, sự phù phù hợp và không phù hợp với yêu cầu mới của quản lý vĩ mô. - Xác định những thông tin báo cáo cần thu thập để đánh giá hoạt động của nền kinh tế nói chung và phục vụ đổi mới công tác kế hoạch hoá noi riêng. - Thống nhất biểu mẫu các loại báo cáo thực hiện trên quy mô cả nớc, quy định định kỳ báo cáo đối với từng loại thông tin cụ thể. - Xác định hệ thống tổ chức bộ máy thu thập cà xử lý thông tin phù hợp với yêu cầu đổi mới công tác kế hoạch và điều hành kinh tế vĩ mô. - Nhanh chóng đa vào áp dụng những thành tựu của công nghệ thông tin phục vụ cho việc xử lý thông tin kế hoạch. - Quy định quy chế cung cấp và sử dụng thông tin, khắc phục tình trạng “Thơng mại hoá” thông tin phục vụ lợi ích cục bộ của một số tổ chức hoặcnhóm ngời; Đảm bảo cho thông tin đợc cung cấp nhanh, ít tốn kém và kịp thời. - Từng bớc hình thành hệ thống thu thập, xử lý, phân tích thông tin theo tiêu chuẩn quốc tế. - Xác định rõ những thông tin mật, không đợc công bố. Ngoài phạm vi đó, thông tin kinh tế phải đợc phổ biến và sử dụng một cách rộng rãi. 3.2.8. Củng cố bộ máy tổ chức, nâng cao trình độ cán bộ kế hoạch Việc thực hiện những định hớng và giải pháp đổi mới trên đây chỉ đạt đợc kết quả mong muốn khi bộ máy tổ chức kế hoạch đợc thay đổi phù hợp và nâng cao trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ làm công tác kế hoạch. Những việc cần thực hiện trong thời gian tới để giải quyết vấn đề này là: - Hoàn thiện bộ máy kế hoạch ở trung ơng cũng nh ở địa phơng theo hớng liên kết, phối hợp chặt chẽ với nhau hơn để có thể thờng xuyên nắm bắt tình hình, phục vụ kịp thời cho việc điều hành thực hiện kế hoạch, cũng nh giúp cho Chính phủ và chính quyền địa phơng phối hợp xây dựng chính sách kinh tế ở cấp của mình một các có hiệu quả. - Xây dựng một hệ thống tổ chức kế hoạch có “Chân rết” gọn nhẹ, có năng lực ở các ngành và các địa phơng phục vụ tốt hơn cho công tác kế hoạch hoá và cung cấp thông tin theo chiều dọc và theo chiều ngang; Tổ chức thực hiện một chơng trình đào tạo, bồi dỡng cán bộ kế hoạch một cách cơ bản nhằm nâng cao trình độ của cán bộ Bộ Kế hoạch và Đầu t, cán bộ Vụ Kế hoạch các Bộ và cán bộ các Sở Kế hoạch và Đầu t địa phơng. PHẦN KẾT LUẬN Từ thực tiễn phát triển KT-XH ở nứơc ta đã cho thấy vai trò quan trọng của công tác KHH và việc cần thiết phải đổi mới công tác KHH. Trong báo cáo chính trị tại Đại hội VI của đã lần đầu tiên đề cập tới đờng lối đổi mới. Bản chất của KHH hoàn toàn phụ thuộc vào vai trò của Nhà nớc trong nền kinh tế thị trờng. KHH trong nền kinh tế thị trờng định hớng XHCN nh ngày nay đã khác với KHH trớc đây rất nhiều. Nếu nh trớc đây, kế hoạch chỉ giới hạn trong phạm vi kinh tế nhà nớc, thì bây giờ kế hoạch phải bao hàm tổng thể nền kinh tế quốc dân với nhiều thành phần kinh tế và phải nhấn mạnh đến vấn đề quy hoạch, chiến lợc phát triển KT-XH…Tăng trởng và đảm bảo định hớng XHCN. Vì thế đổi mới công tác KHH từ t duy, quan điểm định hớng, nội dung, quy trình lập và điều hành cho đến cơ cấu tổ chức và cách thức chỉ đạo kế hoạch là một nội dung cơ bản của quá trình đổi mới công tác KHH. Phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, do vậy nội dung kế hoạch không đợc phép chỉ giới hạn trong phạm vi khu vực kinh tế nhà nớc mà phải mang tính tổng thể nền kinh tế. Việc đổi mới này sẽ tác động một cách sâu sắc đến tính dân chủ và công khai của kế hoạch. Ngay từ lúc dự thảo nội dung kế hoạch, các mục tiêu và biện pháp không nên và không cần phải giữ bí mật. Những công cụ thờng đợc áp dụng trong nền kinh tế KHH trớc đây phải đợc thay thế bằng những công cụ, chính sách phù hợp với nền kinh tế thị trờng định hớng XHCN. Liên quan chặt chẽ với những điểm trên là những vấn đề quy hoạch. Nhng ở nớc ta vấn đề quy hoạch vẫn còn hạn chế, bất cập. Do do, công tác quy hoạch cần phải đợc đổi mới và phaỉ nâng cao chất lợng công tác quy hoạch. Công tác KHH nền kinh tế quốc dân đòi hỏi phải nâng cao vai trò của Bộ KH & ĐT – là cơ quan tham mu tổng hợp của nền kinh tế quốc dân, phải phát huy vai trò của các bộ và tổng công ty theo một phơng pháp luận thống nhất.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfch18_7322.pdf
Tài liệu liên quan