Agropark yên bình – “Hướng đi mới” cho phát triển nông nghiệp, nông thôn tỉnh Thái Nguyên - Nguyễn Bích Hồng

KẾT LUẬN Quá trình đô thị hóa đang diễn ra với tốc độ cao. Sức mua của người dân đô thị không ngừng gia tăng. Nông phẩm xanh, sạch trở thành một tiêu chí phản ánh chất lượng đời sống hiện đại. Thực tế khách quan này đòi hỏi sản xuất nông nghiệp dịch chuyển từ phương thức truyền thống sang nông nghiệp công nghệ cao - sản xuất theo định hướng tiêu dùng. Sản xuất nông nghiệp được tổ chức thành chuỗi liên hợp thông minh gồm: sản xuất nông nghiệp - chế biến - hậu cần kho vận - thương mại phân phối - nghiên cứu và phát triển. Mô hình vận hành hài hòa và phối hợp đầy đủ các cấu phần như trên chính là Công viên Nông nghiệp (AgroPark). Tỉnh Thái Nguyên với đà tăng trưởng tốt về kinh tế, tốc độ tăng trưởng ổn định và bền vững của tất cả các ngành đặc biệt là ngành nông, lâm thuỷ sản; tiềm năng về nhân lực, nhiều thuận lợi về giao thông, thương mại là nơi lý tưởng cho việc phát triển Agropark đầu tiên của miền Bắc. Mô hình AgroPark Yên Bình sẽ là tương lai của nông nghiệp Việt Nam. Tại đây sẽ cho phép tạo ra được khối lượng sản phẩm lớn trên diện tích canh tác hẹp, giải quyết công ăn việc làm cho lao động dôi dư. Một khi được đầu tư và phát triển đúng hướng, Agropark Yên Bình sẽ trở thành mô hình hoàn chỉnh về nông nghiệp công nghệ cao, theo hướng hàng hóa lớn của Thái Nguyên nói riêng và miền Bắc nói chung, có sức ảnh hưởng và lan tỏa mạnh mẽ đến sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn của vùng.

pdf5 trang | Chia sẻ: thucuc2301 | Ngày: 26/11/2020 | Lượt xem: 6 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Agropark yên bình – “Hướng đi mới” cho phát triển nông nghiệp, nông thôn tỉnh Thái Nguyên - Nguyễn Bích Hồng, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Nguyễn Bích Hồng và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 91(03): 139 - 143 139 AGROPARK YÊN BÌNH – “HƯỚNG ĐI MỚI” CHO PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN TỈNH THÁI NGUYÊN Nguyễn Bích Hồng1*, Trần Đại Nghĩa2, Phạm Lê Vân1 1Trường Đại học Kinh tế & Quản trị Kinh doanh – ĐH Thái Nguyên, 2Viện Chính sách và Chiến lược PTNNNT TÓM TẮT Nông nghiệp và nông thôn Việt Nam đang đứng trước nhiều vấn đề nan giải. Mỗi năm, đất nông nghiệp lại giảm đi khoảng 70.000ha cho đô thị hóa và công nghiệp hóa. Mặt khác, sản xuất nông nghiệp ngày càng phải hứng chịu nhiều rủi ro lớn do thiên tai, dịch bệnh. Trong khi đó, người tiêu dùng luôn đòi hỏi có sự minh bạch trong chuỗi thực phẩm “từ nông trại đến bàn ăn”. Do vậy, để giải quyết các trở ngại và đáp ứng nhu cầu về thực phẩm, phải thay đổi phương thức canh tác nông nghiệp lạc hậu đã và đang tồn tại hàng nghìn năm nay. Những mô hình nông nghiệp xanh, hài hòa sinh thái và giàu sức sáng tạo, trong đó các khu công viên nông nghiệp (AgroPark) là đại diện tiêu biểu, đang được trông đợi như lời giải cho bài toán phát triển bền vững, đảm bảo an ninh lương thực và an ninh lương thực. Trên cơ sở các định hướng phát triển kinh tế – xã hội của Đảng và Nhà nước, nghiên cứu đã hệ thống hóa các lý luận về Agropark, kinh nghiệm phát triển Agropark ở trong và ngoài nước đồng thời phân tích các điều kiện và cơ hội phát triển khu Agropark Yên Bình tại tỉnh Thái Nguyên. Từ khóa: Agropark, Yên Bình, Thái Nguyên, nông nghiệp, nông thôn. ĐẶT VẤN ĐỀ* Phát triển nông nghiệp nông thôn đã và đang được Đảng và Nhà nước xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của đất nước. Theo đó Việt Nam tập trung quy hoạch lại kết cấu nông thôn theo mô hình nông thôn mới; cải tiến sản xuất nông nghiệp ở trình độ thấp, manh mún sang nông nghiệp kỹ thuật cao, quy mô lớn; lấy người nông dân là trung tâm trong quá trình đổi mới để nâng cao đời sống nhân dân, giải quyết các vấn đề xã hội phát sinh. Mô hình khu công nghiệp nông nghiệp công nghệ cao (Agropark) với điển hình thành công ở các nước Hà Lan, Trung Quốc, Ấn Độ đang được coi là lời giải cho hiện đại hóa nền nông nghiệp, nông thôn Việt Nam. Nông nghiệp công nghệ cao bắt đầu được triển khai tại Việt Nam đầu những năm 2000. Đến nay, các mô hình thử nghiệm đã được xây dựng và triển khai tại nhiều địa phương như: Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai v.v. Tuy nhiên khu vực Đồng bằng sông Hồng chưa có mô hình nào, mặc dù đây là khu vực sản xuất nông nghiệp rất lâu đời. Vì vậy, việc xây * Tel: 0914 527585 dựng một mô hình Agropark tại khu vực phía Bắc là một yêu cầu cấp thiết để phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa lớn cho toàn khu vực. Qua nghiên cứu cho thấy, tỉnh Thái Nguyên là nơi lý tưởng cho việc phát triển Agropark đầu tiên của miền Bắc. MỤC TIÊU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Mục tiêu nghiên cứu (i) Hệ thống hóa các lý luận về Agropark và kinh nghiệm phát triển Agropark ở thế giới và Việt Nam. (ii) Phân tích các điều kiện và cơ hội phát triển khu Agropark tại tỉnh Thái Nguyên. Phương pháp nghiên cứu (i) Phương pháp điều tra thu thập số liệu: Số liệu thứ cấp được thu thập thông qua các báo cáo, nghiên cứu có liên quan; trao đổi ý kiến với các nhà quản lý và chuyên môn địa phương; tham vấn ý kiến các chuyên gia, nhà khoa học. (ii) Phương pháp tổng hợp, xử lý số liệu: Số liệu được phân tích bằng các phương pháp thống kê và xử lý bằng phần mềm Excel. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên Nguyễn Bích Hồng và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 91(03): 139 - 143 140 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Tổng quan về Agropark Trong các nghiên cứu đã được công bố có nhiều thuật ngữ khác nhau được dùng để chỉ cùng một khái niệm như “Agropark”, “Greenport”, “Agro production Park” v.v. Theo định nghĩa của De Wilt năm 2000 thì Agropark là sự tập trung thành cụm một cách có chủ đích các hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp tại một khu vực cụ thể nhằm tạo ra các hoạt động tiềm năng trong nhiều lĩnh vực tạo sự gắn kết các công đoạn của các chu trình chế biến, giảm chi phí và thời gian vận chuyển để sử dụng một cách hiệu quả nhất các khoảng không gian hạn chế cho phép [1]. Agropark là một khái niệm động, nó có thể thay đổi theo thời gian. AgroPark phân theo cấp độ phức tạp của vận hành gồm có: Giản đơn và tích hợp. AgroPark giản đơn được thiết kế và vận hành với chức năng duy nhất là khu sản xuất. Tại đây, đầu vào được cung cấp qua trung tâm thu gom nguyên liệu từ nông dân, và/hoặc từ khu sản xuất riêng theo công nghệ cao của AgroPark. Nguyên liệu thô, sau đó, sẽ chuyển vào khu sơ chế, chế biến nông sản. Thành phẩm cuối cùng sẽ tiêu thụ trên thị trường. Theo cấp độ cao cấp, AgroPark tích hợp (Integrated AgroPark) sẽ được thiết kế và vận hành dưới hình thức chuỗi liên hợp gắn kết từ sản xuất nông nghiệp-công nghiệp chế biến nông sản- dịch vụ nông nghiệp. Chuỗi liên hợp này được bắt đầu từ các Trung tâm trung chuyển nông thôn (Rural Transformation Center). Trung tâm này thực hiện hai chức năng quan trọng: Là nơi hướng dẫn, đào tạo nông dân sản xuất đáp ứng tiêu chuẩn hàng hóa cho AgroPark, và cũng là điểm thu mua sản phẩm của nông dân, sau đó cung cấp nguyên liệu đầu vào cho AgroPark. Cơ hội phát triển khu Agropark ở Thái Nguyên Điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội Thái Nguyên là một tỉnh miền núi trung du Bắc Bộ, có diện tích tự nhiên 3.562,82 km², phía Bắc giáp với Bắc Kạn; phía Tây giáp với Vĩnh Phúc, Tuyên Quang; phía Đông giáp với Lạng Sơn, Bắc Giang; phía Nam với thủ đô Hà Nội. Với vị trí địa lý khá thuận lợi và là một trong những trung tâm chính trị, kinh tế của Việt Bắc nói riêng, của vùng trung du miền núi Đông Bắc nói chung, Thái Nguyên là cửa ngõ giao lưu kinh tế xã hội giữa vùng trung du miền núi với vùng đồng bằng Bắc Bộ. Sự giao lưu đó được thực hiện thông qua hệ thống đường bộ, đường sắt, đường sông mà thành phố Thái Nguyên là đầu nút cửa ngõ giao thông để kết nối giữa các khu vực trên [1]. Theo Niên giám thống kê 2010, dân số tỉnh Thái Nguyên là 1.131.300 người, trong đó nam có 558.900 người chiếm 49,4% và nữ là 572.400 người chiếm 50,6%, tỉ số giới tính nam/nữ là 97,6/100. Tổng dân số đô thị là 293.600 người (25,95%) và tổng dân cư nông thôn là 837.700 người (74,05%) [3]. Trong những năm gần đây, tỉnh Thái Nguyên luôn giữ được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao. Năm 2010, tổng sản phẩm trong tỉnh (theo giá thực tế) ước đạt 19.816,2 tỷ đồng; trong đó khu vực công nghiệp, xây dựng chiếm 41,54%; khu vực dịch vụ chiếm 36,73%; khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản chiếm 21,73%. Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) trên địa bàn năm 2010 ước đạt 11%, GDP bình quân đầu người ước đạt 17,5 triệu đồng. Giá trị xuất khẩu trên địa bàn ước đạt 92 triệu USD tăng 32,9% so với năm 2009. Trong đó, xuất khẩu địa phương đạt 72,2 triệu USD, tăng 35,4% so với năm 2009 [2]. Thực trạng sản xuất nông nghiệp của tỉnh Thái Nguyên Trong những năm gần đây, sản xuất nông nghiệp của tỉnh đã phát triển với tốc độ nhanh, ổn định, đa dạng, bền vững theo hướng sản xuất hàng hoá gắn với công nghiệp chế biến; sử dụng có hiệu quả cao quỹ đất nông nghiệp bằng thâm canh tăng năng suất, chất lượng, giá trị sản phẩm trên một đơn vị diện tích, nâng cao sức cạnh tranh của nông sản hàng hoá, thực hiện tốt chủ trương dồn điền, đổi thửa; bảo đảm an ninh lương thực; cơ cấu nông nghiệp chuyển dịch theo hướng: tăng tỷ trọng chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp, cây công nghiệp, cây ăn quả; phát triển các Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên Nguyễn Bích Hồng và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 91(03): 139 - 143 141 cây, con có giá trị cao phù hợp điều kiện của địa phương, gắn phát triển nông nghiệp của Tỉnh với phát triển nông nghiệp Vùng trung du và miền núi Bắc Bộ và Vùng Hà Nội. Bên cạnh đó, tỉnh đã đẩy mạnh áp dụng các tiến bộ khoa học - công nghệ vào sản xuất nông, lâm nghiệp; chú trọng đầu tư cho công nghệ bảo quản sau thu hoạch; đặc biệt chú ý đến các tiến bộ về sử dụng đất hiệu quả, bền vững, tiến bộ về giống, chuyển dịch cơ cấu mùa vụ, phòng trừ dịch bệnh. Năm 2010, giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản toàn tỉnh (theo giá so sánh) ước đạt 2.452 tỷ đồng, tăng 5,7% so với năm 2009. Giá trị sản phẩm trên 1ha đất nông nghiệp trồng trọt ( theo giá thực tế) ước đạt 54 triệu đồng, tăng 7 triệu đồng so với năm 2009, tương ứng với tăng 15,3%. Sản lượng lương thực có hạt ước đạt 419 nghìn tấn, tăng 2,9% ( tương đương 11,8 nghìn tấn) so với năm 2009. Giá trị sản xuất ngành chăn nuôi ước đạt 694 tỷ đồng, tăng 10,8% so với năm 2009. Diện tích trồng rừng tập trung toàn tỉnh ( từ tất cả các nguồn vốn) ước đạt 6.914 ha, tăng 3,4% so với năm 2009. Diện tích chè trồng mới và trồng lại được 727 ha tăng 1% ( tương đương 7 ha) so với trồng mới năm 2009 [2]. Thuận lợi và khó khăn trong phát triển khu Agropark tại Thái Nguyên Thuận lợi Trên cơ sở các thành tựu đã đạt được, tỉnh Thái Nguyên định hướng phát triển nông, lâm nghiệp giai đoạn 2011-2015 theo hướng hiện đại, hiệu quả, bền vững. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nâng cao năng suất, chất lượng để duy trì tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm 4,5%. Tăng cường áp dụng tiến bộ khoa học, công nghệ, nhất là công nghệ sinh học, công nghệ chế biến sau thu hoạch. Chuyển đổi diện tích chè bằng các giống mới theo hướng tạo vùng nguyên liệu tập trung gắn với công nghiệp chế biến. Phát triển trồng rau an toàn, hoa, cây cảnh. Phát triển hệ thống dịch vụ, kỹ thuật nông, lâm nghiệp. Tăng cường củng cố các thành phần kinh tế và ngành nghề ở nông thôn, khuyến khích phát triển kinh tế hợp tác, hợp tác xã, hộ gia đình và kinh tế trang trại. Thực hiện tốt công tác thông tin dự báo thị trường, tăng cường xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường tiêu thụ các sản phẩm nông nghiệp. Thực hiện tốt việc gắn kết chặt chẽ 4 nhà (nhà nông, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp, nhà nước) và phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ ở nông thôn. Thực hiện đề án phát triển công nghiệp và làng nghề, đẩy mạnh thu hút đầu tư các dự án sản xuất kinh doanh công nghiệp có công nghệ tiên tiến, hiện đại. Quy hoạch các cụm công nghiệp như: Nam Phổ Yên, Tây Phổ Yên, Điềm Thụy - Phú Bình và khu công nghiệp Yên Bình tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp tư nhân đầu tư vào sản xuất kinh doanh. Có thể thấy rằng, các chủ trương phát triển nông, lâm nghiệp đúng đắn cùng với tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định và bền vững của tỉnh sẽ tạo đà cho khu vực kinh tế nông thôn nói chung và khu Agropark nói riêng phát triển nhanh chóng. Khó khăn Bên cạnh những thuận lợi đó, quá trình phát triển khu Agropark tại Thái Nguyên cũng gặp không ít khó khăn như: Xu hướng giá cả hàng hoá leo thang cao và kéo dài, tỷ lệ lạm phát cao sẽ tiếp tục ảnh hưởng tới tốc độ phát triển và tăng trưởng kinh tế, đầu tư. Công tác cải cách hành chính của tỉnh chưa tạo được sự đột phá để thu hút vốn đầu tư. Tuy môi trường đầu tư đã được cải thiện song sự phối hợp giữa các ngành, địa phương, các cấp còn thiếu đồng bộ, chồng chéo, trách nhiệm chưa cụ thể, thủ tục hành chính rườm rà, năng lực của cán bộ công chức còn nhiều hạn chế, các chính sách về tài chính, đất đai chưa đáp ứng được nhu cầu và nguyện vọng của nhân dân. Về lĩnh vực xã hội còn nhiều tồn tại, bức xúc nhất là tệ nạn ma tuý, tai nạn giao thông ảnh hưởng nhiều đến sự phát triển chung của kinh tế Thái Nguyên. Agropark Yên Bình – hướng đi mới cho phát triển nông nghiệp, nông thôn Thái Nguyên Với điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, đường giao thông thuận lợi, nằm giữa trục cao tốc Hà Nội - Thái Nguyên. Khu công - nông Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên Nguyễn Bích Hồng và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 91(03): 139 - 143 142 nghiệp công nghệ cao Agropark Yên Bình sẽ mang đến sự hài hòa về phát triển cho khu tổ hợp Yên Bình với chức năng phát triển nông nghiệp cũng như đóng vai trò là khu nông nghiệp công nghệ cao đầu tiên của miền Bắc, hướng đến thị trường trực tiếp là Hà Nội. Agropark Yên Bình sẽ trở thành khu công nghiệp công nghệ cao theo 2 hướng: (i) mô hình tích hợp nhiều chức năng, và (ii) mô hình đặc trưng theo từng ngành hàng nông sản có thế mạnh của địa phương. Thông qua kết hợp với phát triển nông thôn và nông nghiệp của vùng, Agropark Yên Bình dự kiến sẽ là nơi: chế biến, tiêu thụ nông sản cho vùng; cung cấp dịch vụ khoa học công nghệ cho vùng; làm mô hình phát triển nông nghiệp; đào tạo cán bộ kỹ thuật, cung cấp các chuyên gia tư vấn và nghiên cứu; phát triển du lịch nông thôn và nâng cao giá trị gia tăng cho sản xuất nông nghiệp. Trọng tâm hướng đến sản xuất, chế biến và thương mại các sản phẩm nông nghiệp như: rau, hoa, quả, thủy sản, nấm, chè.. theo quy trình công nghệ cao, năng suất, sản lượng và chất lượng sản phẩm nông nghiệp của vùng sẽ nâng cao một cách rõ rệt. Theo tính toán của các chuyên gia viện Chính sách và Chiến lược PTNT - Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, nếu giá trị sản phẩm trên 1 ha đất nông nghiệp trồng trọt (theo giá thực tế) năm 2010 của tỉnh Thái Nguyên là 54 triệu đồng/ha thì khi chuyển sang sản xuất công nghệ cao, giá trị này có thể đạt 500 triệu/ha đối với mặt hàng quả có múi như cam, bưởi; 2 tỉ/ha nếu nuôi trồng và chế biến cá rô phi năng suất cao; 10 tỉ/ha đối với mặt hàng hoa ly KẾT LUẬN Quá trình đô thị hóa đang diễn ra với tốc độ cao. Sức mua của người dân đô thị không ngừng gia tăng. Nông phẩm xanh, sạch trở thành một tiêu chí phản ánh chất lượng đời sống hiện đại. Thực tế khách quan này đòi hỏi sản xuất nông nghiệp dịch chuyển từ phương thức truyền thống sang nông nghiệp công nghệ cao - sản xuất theo định hướng tiêu dùng. Sản xuất nông nghiệp được tổ chức thành chuỗi liên hợp thông minh gồm: sản xuất nông nghiệp - chế biến - hậu cần kho vận - thương mại phân phối - nghiên cứu và phát triển. Mô hình vận hành hài hòa và phối hợp đầy đủ các cấu phần như trên chính là Công viên Nông nghiệp (AgroPark). Tỉnh Thái Nguyên với đà tăng trưởng tốt về kinh tế, tốc độ tăng trưởng ổn định và bền vững của tất cả các ngành đặc biệt là ngành nông, lâm thuỷ sản; tiềm năng về nhân lực, nhiều thuận lợi về giao thông, thương mại là nơi lý tưởng cho việc phát triển Agropark đầu tiên của miền Bắc. Mô hình AgroPark Yên Bình sẽ là tương lai của nông nghiệp Việt Nam. Tại đây sẽ cho phép tạo ra được khối lượng sản phẩm lớn trên diện tích canh tác hẹp, giải quyết công ăn việc làm cho lao động dôi dư. Một khi được đầu tư và phát triển đúng hướng, Agropark Yên Bình sẽ trở thành mô hình hoàn chỉnh về nông nghiệp công nghệ cao, theo hướng hàng hóa lớn của Thái Nguyên nói riêng và miền Bắc nói chung, có sức ảnh hưởng và lan tỏa mạnh mẽ đến sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn của vùng. TÀI LIỆU THAM KHẢO [1]. Báo cáo xây dựng đề án hợp tác đầu tư cho khu Agropark tại Thái Nguyên, Viện Chính sách và Chiến lược PTNNNT, 2011. [2]. Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Thái Nguyên năm 2010. [3]. Cục thống kê tỉnh Thái Nguyên, Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên, Công ty cổ phần in Thái Nguyên, 2009. [4]. www.wikipedia.org Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên Nguyễn Bích Hồng và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 91(03): 139 - 143 143 SUMMARY YEN BINH AGRO PARK– “NEW DIRECTION” TO DEVELOP THAI NGUYEN PROVINCE’S AGRICULTURE AND RURAL AREA Nguyen Bich Hong1*, Tran Dai Nghia2, Pham Le Van1 1College of Economics and Business Administration – TNU, 2 Institute of Policy and Strategy for Agriculture and Rural Development In the context of fast urbanization and industrialization, the agricultural land has been being declined (about 70,000 ha/yearly) while demand for agricultural products in urban area has increased dramatically. This requires the restructuring of agricultural production toward urban demand-oriented agriculture along supply chain that links of production – processing – logistics and storages – distribution, trade – research & development. This modern model of agricultural production is known in a number of countries in the world as Agropark. This paper reviews theories of agropark and the development of agropark models in the world and Viet Nam as well as assesses conditions required for establishing an agropark area in Thai Nguyen province. This agropark will be located in Pho Yen and Phu Binh districts and will be a green city model with a combination between agriculture, industry and services. This agropark is designed to produce a large volume of products to meet high demand for agricultural products and services of urban population, Yen Binh will be a complete model of the high-tech agriculture and as a new direction for agriculture and rural economy of Thai Nguyen province in particular and of Vietnam in general. Key words: Agropark, Yen Binh, Thai Nguyen, agriculture, rural area . * Tel: 0914 527585 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfbrief_33442_37262_792012101031912012_split_22_3074_2052328.pdf
Tài liệu liên quan